
KINH TẾ SỐ · DỮ LIỆU · NIỀM TIN
Khi một số điện thoại không còn chỉ để gọi, mà đi cùng tài khoản ngân hàng, ví điện tử, hợp đồng, hóa đơn và định danh điện tử, câu chuyện "chuẩn hóa thuê bao" bắt đầu chạm tới một vấn đề lớn hơn: Làm thế nào để biết người ở đầu bên kia thực sự là ai?
Từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME), cho rằng chuẩn hóa danh tính số không chỉ là câu chuyện kỹ thuật. Khi dữ liệu ngày càng chính xác và có khả năng đối chiếu tốt hơn, khoảng trống trong xác thực giao dịch sẽ được thu hẹp, qua đó giúp doanh nghiệp giảm chi phí xác minh và mở rộng giao dịch trên môi trường số. Theo ông, yêu cầu tiếp theo với doanh nghiệp là chuyển từ "có dữ liệu" sang "quản trị bằng dữ liệu".
Trong nền kinh tế truyền thống, trước khi ký một hợp đồng, mở một tài khoản hay thực hiện giao dịch có giá trị, doanh nghiệp thường biết khá rõ mình đang giao dịch với ai. Trên môi trường số, yêu cầu đó không mất đi. Nó chỉ trở nên khó nhìn thấy hơn.
Một số điện thoại có thể đứng sau tài khoản mạng xã hội, đơn hàng trực tuyến, mã OTP, ví điện tử, tài khoản ngân hàng, hợp đồng điện tử hay lịch sử giao dịch. Khi danh tính gắn với số điện thoại không đủ chính xác, khoảng trống niềm tin xuất hiện ngay ở điểm bắt đầu của chuỗi giao dịch.
Trao đổi với Doanh nhân & Công lý, GS.TS Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME) - cho rằng việc rà soát, chuẩn hóa thuê bao cần được nhìn rộng hơn câu chuyện quản lý viễn thông.
Dữ liệu sạch như một loại "hạ tầng mềm".
GS.TS Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HANOISME
Theo ông Mạc Quốc Anh, Khi dữ liệu về chủ thể ngày càng chính xác và có khả năng đối chiếu tốt hơn, độ tin cậy của các giao dịch trên môi trường số cũng được nâng lên. Với doanh nghiệp, điều đó đồng nghĩa với việc giảm thời gian, chi phí xác minh, đồng thời mở rộng khả năng giao dịch từ xa.
Từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông cho rằng một trong những rào cản lớn nhất của kinh tế số chính là khả năng xác định chủ thể thực sự của giao dịch. Người bán cần biết khách hàng là ai. Người mua cần biết ai đứng sau gian hàng. Ngân hàng và tổ chức trung gian thanh toán cần đủ dữ liệu để nhận ra những giao dịch bất thường.
Khi dữ liệu thuê bao ngày càng có khả năng đối chiếu với dữ liệu dân cư, VNeID, tài khoản ngân hàng và những lớp xác thực khác, khoảng trống về danh tính sẽ từng bước thu hẹp. Giá trị của quá trình này không nằm ở một cơ sở dữ liệu riêng lẻ, mà ở khả năng các lớp dữ liệu hỗ trợ nhau để làm rõ chủ thể giao dịch.
"Đây là một bước quan trọng trong quá trình xây dựng hạ tầng niềm tin số quốc gia."

Với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI”, nhiều giải pháp được trình diễn theo hướng ứng dụng thực tế, từ eKYC, xác thực sinh trắc học, thanh toán QR đến trợ lý tài chính AI, quản lý dòng tiền và các công cụ dành cho hộ kinh doanh, doanh nghiệp.
Điểm đáng chú ý không nằm ở từng công nghệ riêng lẻ, mà ở cách các lớp dữ liệu bắt đầu kết nối với nhau trong toàn bộ hành trình giao dịch. Danh tính được xác thực chính xác hơn giúp ngân hàng nhận diện đúng chủ thể; dữ liệu giao dịch giúp theo dõi dòng tiền; còn AI mở thêm khả năng phân tích nhu cầu và hỗ trợ ra quyết định. Khi đó, dữ liệu không còn chỉ để lưu trữ hay phục vụ nghiệp vụ nội bộ, mà trở thành một phần trực tiếp của trải nghiệm tài chính.
Đây cũng là mắt xích nối câu chuyện chuẩn hóa thuê bao, định danh điện tử với bài toán lớn hơn mà doanh nghiệp đang đối mặt: Làm thế nào biến dữ liệu đáng tin cậy thành giao dịch đáng tin cậy. Khi danh tính số, thanh toán, ngân hàng và các công cụ quản trị ngày càng được kết nối, “hạ tầng niềm tin số” bắt đầu hiện diện ngay trong những hoạt động rất cụ thể - từ mở tài khoản, thanh toán, ký kết đến quản lý dòng tiền và phục vụ khách hàng.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, lợi ích đầu tiên không nhất thiết nằm ở những công nghệ phức tạp. Nó bắt đầu từ một điều rất thực tế: Bớt thời gian xác minh, bớt giấy tờ, bớt những cuộc gọi kiểm tra thủ công và bớt những giao dịch phải từ chối chỉ vì không đủ thông tin để đánh giá.
"Trong kinh doanh, thiếu niềm tin luôn tạo ra chi phí."
Dữ liệu sạch như một loại "hạ tầng mềm"
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME) ví quá trình làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu với hạ tầng giao thông của nền kinh tế vật chất. Đường sá càng thông suốt thì hàng hóa lưu chuyển càng nhanh; dữ liệu càng chính xác và khả năng xác thực càng cao thì giao dịch số càng thuận lợi.
Cách nhìn này giúp câu chuyện chuẩn hóa thuê bao thoát khỏi phạm vi kỹ thuật. Nó trở thành một phần của môi trường kinh doanh: Nơi chất lượng dữ liệu có thể tác động trực tiếp tới tốc độ giao dịch, chi phí vận hành và khả năng mở rộng thị trường.
Theo GS.TS Mạc Quốc Anh, doanh nghiệp không nên chỉ đứng ở vị trí người thụ hưởng thụ động của quá trình chuẩn hóa dữ liệu quốc gia. Hạ tầng định danh và xác thực số tốt hơn chỉ tạo ra "đường". Doanh nghiệp vẫn phải thiết kế lại cách mình đi trên con đường đó.
Điều đầu tiên là xây dựng quy trình "biết khách hàng của mình" phù hợp với quy mô. Không phải doanh nghiệp nào cũng cần hệ thống xác minh phức tạp như ngân hàng, nhưng những điểm quan trọng như mở tài khoản khách hàng, ký hợp đồng, thanh toán, giao nhận, bảo hành hay hậu mãi đều có thể được thiết kế lại theo mức độ rủi ro.
Khách hàng có lịch sử tốt có thể được rút ngắn quy trình. Giao dịch bất thường có thể yêu cầu xác thực bổ sung. Như vậy, doanh nghiệp vừa nâng trải nghiệm vừa tránh áp dụng một quy trình cứng nhắc cho tất cả mọi người.
Một vấn đề khác nằm ngay trong nội bộ doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp nhỏ đang sở hữu lượng lớn thông tin khách hàng nhưng dữ liệu nằm rải rác trong điện thoại của nhân viên, tài khoản mạng xã hội, file Excel, phần mềm kế toán hay các nhóm Zalo. Từ thực tế làm việc với doanh nghiệp nhỏ và vừa, GS.TS Mạc Quốc Anh cho rằng trạng thái phân tán như vậy chưa thể tạo thành một tài sản dữ liệu đúng nghĩa.
"Doanh nghiệp cần từng bước hình thành hồ sơ khách hàng thống nhất, có sự đồng ý của khách hàng và tuân thủ yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân. Khi dữ liệu được tổ chức tốt hơn, lịch sử mua hàng, nhu cầu, mức độ trung thành hay phản hồi sau bán hàng mới có thể trở thành đầu vào cho sản phẩm và dịch vụ tốt hơn", Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HANOISME nhấn mạnh.
"Định danh số của Nhà nước càng mạnh thì quản trị danh tính bên trong doanh nghiệp cũng phải được nâng lên tương ứng."
Một tài khoản lãnh đạo bị giả mạo, một số điện thoại bị chiếm quyền sử dụng, một yêu cầu chuyển tiền giả hay một tập dữ liệu khách hàng bị lộ đều có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho doanh nghiệp nhỏ. Vì vậy, quản trị rủi ro số phải trở thành một phần của quản trị doanh nghiệp chứ không chỉ là việc của bộ phận công nghệ.
Phân quyền tài khoản, xác thực nhiều lớp, quản lý thiết bị truy cập, sao lưu dữ liệu, quy trình xác nhận đối với giao dịch tài chính lớn và đào tạo nhân viên nhận diện hành vi lừa đảo là những lớp bảo vệ căn bản.
Nhưng ở tầng sâu hơn, niềm tin số sẽ tác động trực tiếp tới thương hiệu. Khách hàng ngày càng quan tâm doanh nghiệp bán hàng là ai, tài khoản thanh toán thuộc chủ thể nào, hàng hóa có thể truy xuất nguồn gốc hay không, chính sách đổi trả ra sao và khi có tranh chấp thì ai chịu trách nhiệm.
Khi chuẩn hóa thuê bao, định danh điện tử, thanh toán số, chữ ký số, hợp đồng điện tử và thương mại điện tử ngày càng được kết nối, chuyển đổi số không còn là câu chuyện doanh nghiệp bổ sung thêm một vài công cụ công nghệ. Điều thay đổi sâu hơn nằm ở chính cách doanh nghiệp tổ chức hoạt động.
Một doanh nghiệp nhỏ có thể tiếp nhận khách hàng, xác thực danh tính, ký kết, thanh toán, xuất hóa đơn, giao hàng và chăm sóc sau bán trên cùng một chuỗi quy trình số. Những khâu trước đây phụ thuộc nhiều vào gặp mặt trực tiếp, giấy tờ và xác minh thủ công dần có thể được thực hiện từ xa, với dữ liệu trở thành lớp kết nối xuyên suốt.
Giá trị của “niềm tin số” vì thế không chỉ nằm ở khả năng hạn chế gian lận. Khi doanh nghiệp có thể xác định rõ chủ thể giao dịch, kiểm chứng thông tin và lưu lại lịch sử tương tác, khoảng cách địa lý không còn là rào cản lớn như trước. Một doanh nghiệp quy mô nhỏ vẫn có thể phục vụ khách hàng ở thị trường chưa từng hiện diện, giao dịch với đối tác chưa từng gặp trực tiếp và mở rộng hoạt động mà không phải tăng tương ứng bộ máy vận hành.
Ở điểm này, công nghệ chỉ là phương tiện. Năng lực cạnh tranh nằm ở việc doanh nghiệp tổ chức được dữ liệu, quy trình và các điểm chạm với khách hàng thành một hệ thống có thể vận hành nhanh hơn, chính xác hơn và có khả năng mở rộng.
Doanh nghiệp nào quản trị dữ liệu tốt, xác thực tốt và xây dựng được uy tín số sớm sẽ có lợi thế rõ hơn trong giai đoạn phát triển tiếp theo của kinh tế số.
Nội dung: Ý Thơ - Thiết kế có sự hỗ trợ của AI
