Tại giai đoạn II, Trương Mỹ Lan và 33 bị can khác bị cáo buộc lừa hơn 35.000 nhà đầu tư chiếm đoạt hơn 30.000 tỷ đồng và “rút ruột” 415.000 tỷ đồng từ SCB để chuyển ra nước ngoài. Ngoài ra, các bị can này còn bị cáo buộc chuyển trái phép qua biên giới hơn 4,5 tỷ USD.

 

 

Theo kết luận điều tra, từ năm 2018 - 2019, Trương Mỹ Lan cùng đồng phạm đã phát hành 25 gói trái phiếu của 4 Công ty gồm: Công ty An Đông, Công ty Quang Thuận, Công ty Sunny World, và Công ty Setra. Các công ty này đều thuộc hệ sinh thái Tập đoàn Vạn Thịnh Phát.

Trương Mỹ Lan tại phiên tòa trong giai đoạn I

Trong đó, Công ty An Đông phát hành 3 gói trái phiếu, chiếm đoạt 24.969 tỷ đồng; Công ty Setra phát hành 20 gói, chiếm đoạt 2.000 tỷ đồng; Công ty Sunny World phát hành 1 gói, chiếm đoạt 1.612 tỷ đồng và Công ty Quang Thuận phát hành 1 gói trái phiếu, chiếm đoạt 1.500 tỷ đồng. Tổng cộng 4 công ty này chiếm đoạt của hơn 35.000 nhà đầu tư hơn 30.000 tỷ đồng.

Ngoài ra, Kết luận điều tra còn xác định tại giai đoạn I, bị can Trương Mỹ Lan cùng đồng phạm đã lập khống 916 hồ sơ vay vốn, rút tiền hơn 415.000 tỷ đồng từ nguồn “tham ô tài sản” của SCB.

Sau khi tham ô số tiền này, Trương Mỹ Lan đã chỉ đạo nhóm thân tín tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát và SCB chuyển qua tài khoản của 483 cá nhân và 450 pháp nhân. Bộ Công an xác định, Trương Mỹ Lan chỉ đạo số tiền tham ô này được dùng 255.336 tỷ đồng chi trả cho các khoản vay tại SCB, chi thực hiện các dự án, rút tiền mặt chuyển cho các cá nhân.

Đồng thời Trương Mỹ Lan chỉ đạo trả cho các ngân hàng khác các khoản vay của các công ty thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, trả gốc và lãi trái phiếu… chuyển ra nước ngoài 32.094 tỷ đồng của 29 giao dịch liên quan 9 công ty thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát qua các hợp đồng khống, hợp đồng vay nợ, hợp đồng tư vấn… Còn lại 128.234 tỷ đồng Trương Mỹ Lan chỉ đạo dùng vào các mục đích khác.

Cụ thể, để hợp thức, che giấu nguồn gốc bất hợp pháp số tiền chiếm đoạt được của SCB và sử dụng cho các mục đích cá nhân, tránh việc các cơ quan chức năng phát hiện, truy vết dòng tiền, Trương Mỹ Lan đã chỉ đạo nhóm thân tín chuyển tiền ra khỏi hệ thống SCB nhằm cắt đứt dòng tiền.

Việc rút tiền, chuyển tiền ra khỏi SCB được Trương Mỹ Lan thực hiện bằng cách chỉ đạo Nguyễn Phương Hồng, Trương Khánh Hoàng, Trần Thị Mỹ Dung chỉ đạo 1 số chi nhánh của SCB rút tiền mặt trực tiếp tại SCB hoặc chuyển khoản vào các tài khoản của các Công ty “ma”, cá nhân được chỉ định.

Khi cần tiền mặt để sử dụng, Trương Mỹ Lan chỉ đạo Bùi Văn Dũng (lái xe của Lan) đến SCB Chi nhánh Sài Gòn để nhận tiền. Nhóm thân tín của Trương Mỹ Lan tại đây thực hiện các thủ tục để hoàn tất nghiệp vụ rút tiền mặt, đồng thời hẹn các cá nhân được thuê đứng tên đại diện pháp nhân (Công ty “ma”) đến ngân hàng để ký chứng từ rút tiền.

Lái xe Bùi Văn Dũng nhận tiền tại hầm B1, trụ sở SCB Chi nhánh Sài Gòn. Sau đó Dũng vận chuyển tiền về Tòa nhà Sherwood (Quận 3) cho Trương Mỹ Lan hoặc Dũng vận chuyển về Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (Quận 1) hoặc chuyển tiền trực tiếp cho các cá nhân theo chỉ đạo của Trương Mỹ Lan.

Khi chưa cần tiền sử dụng ngay tiền mặt, Trương Mỹ Lan chỉ đạo nhóm thân tín sử dụng các pháp nhân mở tài khoản tại Ngân hàng SCB để nhận tiền. Khi cần sử dụng nhóm này sẽ lập ra các phương án chuyển tiền lòng vòng giữa các tài khoản, cuối cùng đến tài khoản chỉ định để Trương Mỹ Lan sử dụng.

 

 

Thủ đoạn tạo dòng tiền, che giấu nguồn gốc tiền chiếm đoạt của Trương Mỹ Lan nhằm mục đích chi trả các khoản vay khác tại SCB, chi thực hiện các dự án, cho các cá nhân, thanh toán các khoản nợ của các Công ty trong Tập đoàn Vạn Thịnh Phát tại các ngân hàng khác, trả gốc và lãi trái phiếu, chuyển tiền ra nước ngoài…

Dưới sự chỉ đạo của Trương Mỹ Lan, các đối tượng thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát đã câu kết với các nhân viên SCB chuyển tiền quốc tế thông qua việc lập khống các Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng cổ phần, vốn góp; Hợp đồng vay tiền; Hợp đồng tư vấn… Các hợp đồng này đều là hợp đồng khống để hợp thức hóa việc chuyển tiền ra nước ngoài và ngược lại.

Các bị cáo tại phiên tòa trong giai đoạn I

Các pháp nhân chuyển tiền, nhận tiền là các Công ty “ma” thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát. Việc chuyển tiền, nhận tiền từ nước ngoài được thực hiện tại Ngân hàng SCB Chi nhánh Sài Gòn, Chi nhánh Cống Quỳnh và Chi nhánh Bến Thành. Mặc dù không đủ điều kiện để chuyển, bị hệ thống khóa, tuy nhiên nhóm người có thẩm quyền vẫn duyệt mở khóa để hoàn tất việc chuyển tiền quốc tế.

Tại Cơ quan điều tra, Trương Mỹ Lan khai tiền nhận từ nước ngoài chuyển về Việt Nam là "tiền vay", còn tiền chuyển ra nước ngoài là "tiền trả nợ". Để chuyển được tiền ra nước ngoài và ngược lại, bị can Lan giao cho các thân tín phối hợp với Chiu Bing Keung Kenneth (luật sư được giao quản lý các công ty ở nước ngoài) cùng nhóm lãnh đạo SCB lập các hợp đồng "khống" mua bán cổ phần, vốn góp, vay nợ giữa công ty ở Việt Nam với tổ chức, công ty nước ngoài.

Kết luận điều tra xác định, bị can Trương Mỹ Lan có vai trò chủ mưu, cầm đầu tổ chức rửa tiền tổng số hơn 445.000 tỷ đồng. Trong đó hơn 415.000 tỷ dùng nhiều phương thức rút từ SCB và 30.000 tỷ lừa đảo chiếm đoạt của nhà đầu tư thông qua phát hành trái phiếu gian dối.

Ngoài ra, bị can Trương Mỹ Lan cũng bị xác định là chủ mưu, cầm đầu chỉ đạo nhóm liên quan tại Vạn Thịnh Phát và SCB vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới.

Cụ thể, trong 10 năm (từ năm 2012 – năm 2022), có 21 công ty thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát đã thực hiện 78 giao dịch chuyển tiền ra nước ngoài trái quy định với tổng số tiền hơn 1,5 tỷ USD. Đồng thời 21 công ty này đã nhận tiền từ nước ngoài chuyển về trái quy định với 152 giao dịch, tổng hơn 3 tỷ USD.

Việc chuyển tiền quốc tế đều thông qua các hợp đồng khống là các hợp đồng mua bán cổ phần, góp vốn; hợp đồng tư vấn; hợp đồng vay nợ giữa các công ty tại Việt Nam và công ty, tổ chức ở nước ngoài…

Vì vậy, Kết luận điều tra cáo buộc hành vi của Trương Mỹ Lan và đồng phạm phạm vào tội vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới với tổng số tiền hơn 4,5 tỷ USD, tương đương hơn 106.000 tỷ đồng.

 

 

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Banner
icon up