logo

eMagazine

Khát vọng doanh nhân Việt Nam 2045 phải gắn với vị thế quốc gia

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu ấy, cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân được kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và khẳng định vị thế đất nước. Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị đặt ra tầm nhìn xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam có năng lực, trình độ đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước; một bộ phận doanh nghiệp có thương hiệu thế giới, dẫn dắt các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Khát vọng doanh nhân năm 2045 vì thế không chỉ dừng ở thành công trong kinh doanh, mà còn gắn với trách nhiệm kiến tạo những giá trị bền vững cho đất nước.

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), Doanh nhân & Công lý có cuộc trao đổi với GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME), về khát vọng của doanh nhân Việt Nam trên hành trình hướng tới năm 2045.

01

Khát vọng doanh nhân và trách nhiệm kiến tạo vị thế quốc gia

Hướng tới năm 2045, theo ông, doanh nhân Việt Nam cần nuôi dưỡng khát vọng phát triển như thế nào để không chỉ thành công trong kinh doanh mà còn đóng góp vào việc nâng cao vị thế đất nước? Đâu là những giá trị làm nên sự khác biệt giữa một doanh nhân thành đạt và một doanh nhân có khả năng tạo dựng những đóng góp lâu dài cho quốc gia?

GS.TS Mạc Quốc Anh: Theo tôi, khát vọng của doanh nhân Việt Nam hướng tới năm 2045 phải gắn với khát vọng dân tộc: xây dựng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế, đồng thời góp phần nâng cao năng suất, sức tự chủ và uy tín quốc gia. Không chỉ hỏi “doanh nghiệp mình sẽ lớn đến đâu”, mỗi doanh nhân cần hỏi “sự lớn lên ấy giúp đất nước mạnh hơn như thế nào”.

Nghị quyết 41-NQ/TW hướng tới xây dựng đội ngũ doanh nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước vào năm 2045, với những doanh nghiệp có thương hiệu quốc tế và khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị. Tôi cho rằng định hướng ấy cần được cụ thể hóa thành chiến lược của từng doanh nghiệp.

Một thế hệ doanh nhân thành công tạo dựng được doanh nghiệp hiệu quả, tài sản hợp pháp, việc làm và nguồn thu ngân sách. Một thế hệ kiến tạo vị thế quốc gia còn để lại năng lực phát triển cho thế hệ tiếp theo: Công nghệ, đội ngũ chuyên gia, thương hiệu, hệ thống nhà cung cấp và những chuẩn mực kinh doanh đáng tin cậy.

Điểm khác biệt nằm ở khả năng tạo giá trị và lan tỏa giá trị.

Thay vì chỉ nhận gia công, doanh nghiệp cần từng bước tham gia thiết kế, phát triển sản phẩm, làm chủ thương hiệu. Thay vì lớn lên đơn độc, doanh nghiệp dẫn dắt cần tạo cơ hội để các doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng nâng chuẩn, cùng tiếp cận thị trường và cùng trưởng thành.

GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME)
GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME)

Tôi nhấn mạnh rằng khát vọng quốc gia không phải đặc quyền của các tập đoàn lớn. Một doanh nghiệp nhỏ làm chủ được một linh kiện khó, một giải pháp phần mềm hữu ích hay một sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu có thể đóng góp. Quy mô có thể nhỏ, nhưng tiêu chuẩn chất lượng, tinh thần sáng tạo và trách nhiệm không được nhỏ.

Nghị quyết 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời đề cao vai trò tiên phong về năng suất, đổi mới và sức cạnh tranh. Theo tôi, vị thế ấy cũng đặt ra trách nhiệm lớn hơn với doanh nhân. Lợi nhuận là điều kiện để tồn tại và tái đầu tư, nhưng không thể đạt được bằng cách đánh đổi quyền lợi người lao động, môi trường hay niềm tin khách hàng. Doanh nhân kiến tạo vị thế quốc gia phải làm giàu chính đáng, giữ chữ tín và thượng tôn pháp luật.

Vì vậy, thước đo của khát vọng 2045 không chỉ là có thêm bao nhiêu doanh nghiệp lớn, mà còn là doanh nghiệp Việt làm chủ được gì, tạo ra giá trị gì và để lại năng lực gì cho đất nước.

“Quy mô có thể nhỏ, nhưng tiêu chuẩn chất lượng, tinh thần sáng tạo và trách nhiệm không được nhỏ.”

GS.TS Mạc Quốc Anh
02

Năng lực quản trị để cạnh tranh quốc tế

Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò trong nền kinh tế, song để vươn lên những vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, năng lực cạnh tranh vẫn là một thách thức lớn. Theo ông, đâu là năng lực cốt lõi mà doanh nghiệp Việt Nam cần ưu tiên phát triển để không chỉ tham gia mà còn từng bước dẫn dắt và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế?

GS.TS Mạc Quốc Anh: Nếu phải lựa chọn một ưu tiên, tôi chọn năng lực quản trị để tổ chức đổi mới sáng tạo thành kết quả kinh doanh. Vốn, công nghệ hay cơ hội thị trường quan trọng, nhưng doanh nghiệp cần một hệ thống đủ tốt để kết hợp những nguồn lực đó và liên tục tạo ra sản phẩm cạnh tranh.

Trước hết là năng lực lựa chọn chiến lược. Doanh nghiệp phải xác định mình sẽ giải quyết vấn đề gì cho khách hàng, cạnh tranh bằng lợi thế nào và làm chủ công đoạn nào trong chuỗi giá trị. Không nhất thiết phải làm tất cả. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, trở thành nhà cung cấp xuất sắc trong một lĩnh vực chuyên sâu có thể thực chất hơn mở rộng dàn trải.

Trong báo cáo về thương mại và tầm nhìn Việt Nam 2045 công bố năm 2024, Ngân hàng Thế giới cho biết tỷ lệ doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu giảm từ 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023. Theo tôi, mở rộng thương mại phải đi cùng nâng cấp năng lực doanh nghiệp trong nước.

Tiếp theo là chuyển từ quản lý phụ thuộc vào một người sang quản trị bằng hệ thống. Người đứng đầu cần phân quyền rõ, minh bạch tài chính, chuẩn hóa quy trình và xây dựng đội ngũ kế cận. Một doanh nghiệp muốn đi xa không thể để mọi quyết định đều chờ chủ doanh nghiệp. Sức mạnh phải nằm trong tổ chức, không chỉ trong sự tháo vát của cá nhân.

Trên nền tảng ấy, đầu tư công nghệ phải gắn với khả năng tiếp nhận, cải tiến và thương mại hóa. Tôi không coi mua được thiết bị hiện đại là đã làm chủ công nghệ. Doanh nghiệp cần hiểu thiết bị giải quyết điểm nghẽn nào, ai vận hành, dữ liệu được sử dụng ra sao và sản phẩm tạo ra có được thị trường chấp nhận không.

Năng lực dẫn dắt còn đòi hỏi biết tổ chức hợp tác. Tôi mong các doanh nghiệp lớn không chỉ tìm nhà cung cấp có giá thấp, mà cùng đối tác nhỏ nâng chất lượng, đào tạo kỹ thuật và cải tiến sản xuất. Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ phải đáp ứng cam kết về chất lượng, tiến độ, tính minh bạch và trách nhiệm với đối tác.

Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Theo tôi, bên cạnh số lượng doanh nghiệp, cần quan tâm chiều sâu tham gia: Nắm giữ công nghệ nào, thương hiệu nào, giá trị nào và tạo cơ hội cho bao nhiêu nhà cung cấp Việt Nam.

Nói cách khác, chúng ta cần những doanh nghiệp không chỉ đủ lớn để bước ra thế giới, mà đủ năng lực để đứng vững, nâng vị trí và kéo theo cả một mạng lưới doanh nghiệp cùng phát triển.

03

Đầu tư cho con người để tạo năng suất và giá trị mới

Ông từng nhấn mạnh cần coi nguồn nhân lực là một “tài sản chiến lược” của doanh nghiệp. Tuy nhiên, với nguồn lực còn hạn chế, đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, làm thế nào để chuyển nhận thức ấy thành hành động cụ thể? Theo ông, doanh nghiệp nên bắt đầu từ đâu để đầu tư cho con người thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra giá trị bền vững?

GS.TS Mạc Quốc Anh: Theo tôi, nhìn nhận nguồn nhân lực như một “tài sản chiến lược” là thay đổi tư duy của người đứng đầu: người lao động không chỉ là khoản chi phí cần kiểm soát, mà là đối tác tạo giá trị. Cách nói “tài sản” nhấn mạnh giá trị của tri thức, kỹ năng và khả năng sáng tạo, không có nghĩa coi con người là vật sở hữu.

Điểm bắt đầu không phải mua một khóa đào tạo, mà là xác định doanh nghiệp muốn đạt kết quả gì. Trong vài năm tới, doanh nghiệp cần nâng chất lượng sản phẩm, rút ngắn giao hàng, phát triển thị trường hay cải tiến công nghệ? Từ mục tiêu ấy mới xác định năng lực còn thiếu, vị trí cần ưu tiên và nội dung đào tạo.

Tôi đề xuất doanh nghiệp nhỏ và vừa chọn vài điểm nghẽn quan trọng để xử lý trước. Chẳng hạn, một xưởng cơ khí muốn giảm hàng lỗi nên đào tạo tổ trưởng về kiểm soát chất lượng, hướng dẫn công nhân thao tác chuẩn và bố trí người kèm cặp tại chỗ. Không nên bắt đầu bằng chương trình quá rộng, tách khỏi công việc hằng ngày.

Báo cáo tháng 9/2025 của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh rằng tham vọng công nghệ cao của Việt Nam cần không chỉ người tốt nghiệp các ngành khoa học, kỹ thuật, mà cả đội ngũ chuyên gia có khả năng biến ý tưởng thành sản phẩm thương mại. Tinh thần ấy cũng cần được vận dụng vào từng doanh nghiệp.

Đào tạo phải đi cùng cơ hội thực hành, công cụ phù hợp và quyền chủ động. Không thể yêu cầu nhân viên sáng tạo trong khi mọi đề xuất đều bị bác bỏ; cũng không thể đòi hỏi năng suất cao nếu quy trình bất hợp lý không được sửa. Bởi vậy, người lãnh đạo và quản lý cấp trung cũng phải học, thậm chí cần thay đổi trước.

Hiệu quả đầu tư cần được đo bằng kết quả công việc, không chỉ bằng số chứng chỉ. Doanh nghiệp nên ghi nhận mức ban đầu, sau đó theo dõi tỷ lệ hàng lỗi, thời gian xử lý đơn hàng, giá trị tạo ra trên mỗi giờ làm việc và sáng kiến được áp dụng. Khi đánh giá, cần phân biệt tác động của đào tạo với thay đổi về máy móc, đơn hàng hoặc quy trình.

Với nguồn lực hạn chế, doanh nghiệp có thể liên kết qua hiệp hội để đào tạo chung, sử dụng chuyên gia theo nhu cầu và đặt hàng cơ sở đào tạo. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế đãi ngộ công bằng, chia sẻ thành quả năng suất, tôn trọng người lao động và tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp. Thông điệp của tôi là: đừng chờ doanh nghiệp lớn mới đầu tư cho con người; hãy đầu tư đúng cho con người để doanh nghiệp có khả năng lớn lên.

Quản trị bằng hệ thống

Phân quyền, minh bạch tài chính, chuẩn hóa quy trình và xây dựng đội ngũ kế cận.

Đầu tư đúng cho con người

Bắt đầu từ điểm nghẽn của công việc, đo kết quả bằng năng suất và chất lượng.

Công nghệ gắn với giá trị

Chọn bài toán kinh doanh cụ thể, kiểm soát dữ liệu và trách nhiệm sử dụng AI.

04

AI, chuyển đổi số và đổi mới mô hình kinh doanh

AI, chuyển đổi số và sự xuất hiện của những mô hình kinh doanh mới đang làm thay đổi cách thức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, đồng thời mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp đi sau. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng những chuyển biến này như thế nào để rút ngắn khoảng cách về công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước tham gia vào những khâu tạo ra giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu?

GS.TS Mạc Quốc Anh: Theo tôi, cơ hội lớn nhất là rút ngắn quá trình tích lũy năng lực, để doanh nghiệp Việt Nam không chỉ làm việc nhanh hơn mà tham gia những công đoạn tạo giá trị cao hơn. Chúng ta nên coi AI là phương tiện đổi mới cách cạnh tranh, chứ không phải trào lưu phải chạy theo.

Báo cáo OECD công bố năm 2025, dựa trên khảo sát hơn 5.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại bảy quốc gia năm 2024, cho thấy 65% doanh nghiệp sử dụng AI tạo sinh nhận định công nghệ này giúp cải thiện hiệu suất nhân viên. Đây là đánh giá của doanh nghiệp trong khảo sát, không phải mức tăng năng suất 65%, nhưng cho thấy cơ hội đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ.

Từ đó, tôi cho rằng doanh nghiệp Việt Nam nên lựa chọn cách đi phù hợp: khai thác công nghệ sẵn có, kết hợp hiểu biết ngành và khách hàng để giải quyết một bài toán cụ thể. Không phải doanh nghiệp nào cũng cần tự phát triển mô hình AI; điều cần làm chủ là vấn đề kinh doanh và chất lượng giải pháp.

Chẳng hạn, một cơ sở sản xuất đồ gỗ muốn tiếp cận khách hàng quốc tế có thể thử nghiệm AI hỗ trợ phát triển ý tưởng thiết kế, giới thiệu sản phẩm bằng nhiều ngôn ngữ; đồng thời số hóa quy trình tiếp nhận đơn hàng và theo dõi tiến độ. Người phụ trách vẫn phải kiểm tra thiết kế, thông tin và khả năng đáp ứng trước khi cam kết với khách hàng.

Cơ hội sâu hơn nằm ở đổi mới mô hình kinh doanh. Tôi mong doanh nghiệp không dừng ở bán sản phẩm có sẵn, mà tiến tới thiết kế theo nhu cầu, cung cấp dịch vụ đi kèm và xây dựng quan hệ trực tiếp với khách hàng. Khi đó, công nghệ giúp doanh nghiệp cạnh tranh bằng sự khác biệt, thay vì chỉ giảm giá.

Tuy nhiên, đi nhanh không có nghĩa bỏ qua nền tảng. Tôi khuyến nghị doanh nghiệp chuẩn hóa dữ liệu, xác định quyền truy cập, bảo vệ thông tin khách hàng và quy định rõ trách nhiệm kiểm tra kết quả AI. Khảo sát OECD cũng ghi nhận lo ngại về bản quyền, dữ liệu và thiếu kỹ năng ở nhóm chưa sử dụng AI. Tôi cho rằng đây là những rủi ro cần quản trị.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên bắt đầu từ một quy trình có thể đo lường, tính đủ chi phí triển khai rồi mới mở rộng. Hiệp hội có thể kết nối chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp sử dụng để cùng thử nghiệm, đánh giá. Thông điệp của tôi là: Đừng chỉ dùng công nghệ để làm rẻ hơn điều người khác đã làm; hãy dùng công nghệ để tạo ra giá trị mà khách hàng sẵn sàng lựa chọn.

05

Thể chế và niềm tin đầu tư dài hạn

Từ thực tiễn hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo ông, đâu là những điểm nghẽn về thể chế và môi trường kinh doanh cần được ưu tiên tháo gỡ? Doanh nghiệp kỳ vọng gì ở quá trình cải cách chính sách để có thể yên tâm đầu tư dài hạn cho công nghệ, nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị và xây dựng thương hiệu?

GS.TS Mạc Quốc Anh: Theo tôi, điều doanh nghiệp cần nhất để đầu tư dài hạn là một môi trường có thể dự liệu: quyền lợi hợp pháp được bảo vệ, chính sách được thực thi nhất quán và những cam kết hỗ trợ có thể tiếp cận được. Một khoản ưu đãi trước mắt khó thay thế niềm tin vào sự ổn định của môi trường kinh doanh.

Nghị quyết 68-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, đồng thời phân định rõ trách nhiệm hình sự với hành chính, dân sự. Tôi kỳ vọng định hướng ấy được thực thi nhất quán, giúp doanh nhân yên tâm kinh doanh đúng pháp luật. Bảo vệ doanh nghiệp làm ăn chân chính cũng phải đi cùng xử lý nghiêm gian lận, trục lợi.

Về chính sách, tôi mong mỗi thay đổi đều được đánh giá tác động, tham vấn doanh nghiệp và có thời gian chuyển tiếp hợp lý. Doanh nghiệp đầu tư nhà máy, công nghệ hay thương hiệu cần tính toán nhiều năm; vì vậy, sự rõ ràng về điều kiện hoạt động quan trọng không kém mức hỗ trợ tài chính.

Về thực thi, cần chuyển từ yêu cầu doanh nghiệp tự xoay xở giữa nhiều đầu mối sang cơ chế có người chịu trách nhiệm đến cùng. Tôi đề xuất đo cải cách bằng thời gian xử lý thực tế, chi phí tuân thủ và mức độ giải quyết vướng mắc, thay vì chỉ đếm số thủ tục cắt giảm.

Đối với nguồn vốn, Nghị quyết 68 định hướng khuyến khích cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị và xem xét tài sản vô hình. Tôi mong hướng đi này được triển khai bằng cơ chế thẩm định, định giá và quản trị rủi ro phù hợp, để doanh nghiệp có phương án tốt không bị đánh giá chỉ qua tài sản thế chấp.

Với đổi mới sáng tạo, Nghị quyết cũng đặt ra việc xây dựng khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát cho công nghệ, sản phẩm và mô hình kinh doanh mới. Theo tôi, cơ chế thử nghiệm cần rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm và yêu cầu bảo vệ khách hàng. Chấp nhận rủi ro đổi mới không đồng nghĩa chấp nhận vi phạm pháp luật.

Riêng doanh nghiệp nhỏ và vừa, tôi kỳ vọng hỗ trợ đào tạo, công nghệ, tư vấn quản trị và bảo hộ thương hiệu được thiết kế theo nhu cầu, với hồ sơ vừa sức, tiêu chí công khai. Hiệp hội cần tham gia tập hợp nhu cầu, phản ánh vướng mắc và giám sát kết quả, chứ không chỉ chuyển tiếp thông tin chính sách. Một thể chế tốt không làm thay doanh nghiệp và không bảo đảm mọi dự án đều thành công. Nhưng thể chế phải tạo niềm tin rằng đầu tư nghiêm túc, sáng tạo và tuân thủ sẽ được bảo vệ.

2045
"Đến năm 2045, tôi mong thế giới tin sản phẩm Việt, tin doanh nghiệp Việt và tin người Việt".
GS.TS Mạc Quốc Anh

06

Giá trị của thế hệ doanh nhân Việt Nam năm 2045

Hướng tới năm 2045, khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo ông, thế hệ doanh nhân Việt Nam cần hội tụ những phẩm chất và giá trị cốt lõi nào để không chỉ khẳng định vị thế trên thương trường quốc tế mà còn tạo dựng được niềm tin, sự tôn trọng của xã hội và để lại những đóng góp bền vững cho các thế hệ mai sau?

GS.TS Mạc Quốc Anh: Tôi mong thế hệ doanh nhân Việt Nam năm 2045 được nhận diện bằng hình ảnh: Có năng lực tạo ra giá trị, đáng tin cậy trong hợp tác và có trách nhiệm với tương lai. Khi nhắc đến doanh nhân Việt Nam, đối tác quốc tế không chỉ nghĩ đến cơ hội kinh doanh, mà còn nghĩ đến những người đồng hành lâu dài.

Nghị quyết 41-NQ/TW đã định hướng xây dựng đội ngũ doanh nhân có trí tuệ, đạo đức, năng lực quản trị tiên tiến, văn hóa kinh doanh mang bản sắc dân tộc và trách nhiệm xã hội. Theo tôi, những phẩm chất ấy cần trở thành chuẩn mực trong quyết định, không chỉ xuất hiện trong diễn văn hay bộ quy tắc treo trên tường.

Trước hết là chính trực. Tôi mong chữ tín của doanh nhân Việt Nam được thể hiện ở chất lượng đúng cam kết, thông tin minh bạch và cách ứng xử khi có sai sót. Doanh nghiệp đáng tin không phải doanh nghiệp không bao giờ gặp sự cố, mà là doanh nghiệp không né tránh trách nhiệm, biết khắc phục và bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng, đối tác.

Tiếp đó là trí tuệ và tinh thần sáng tạo. Chúng ta cần một thế hệ dám đặt những câu hỏi mới, đầu tư cho nghiên cứu, tôn trọng chuyên môn và làm chủ sản phẩm của mình. Tôi mong người trẻ nhìn vào doanh nhân để thấy con đường thành công bằng tri thức, lao động và sáng tạo, chứ không phải bằng quan hệ hay lợi thế thiếu minh bạch.

Một phẩm chất quan trọng khác là bản lĩnh hội nhập. Theo tôi, đó là khả năng học hỏi thế giới mà không tự ti, cạnh tranh quyết liệt mà không đánh mất chuẩn mực. Bản sắc Việt Nam nên được chuyển hóa thành sự tận tâm, khả năng thích ứng, tinh thần nhân văn và những sản phẩm có chiều sâu văn hóa, chứ không chỉ dừng ở biểu tượng quảng bá.

Tôi cũng mong doanh nhân năm 2045 có văn hóa hợp tác. Doanh nghiệp lớn biết tạo cơ hội cho nhà cung cấp nhỏ; người đi trước sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm; thành công của một doanh nghiệp mở thêm đường cho doanh nghiệp khác. Cạnh tranh để tiến bộ, nhưng hợp tác để cùng nâng vị thế là điều cần nuôi dưỡng.

Cuối cùng là trách nhiệm với con người và thế hệ sau. Tôi không đo trách nhiệm ấy chỉ bằng số tiền làm từ thiện, mà bằng việc làm tử tế, cơ hội học tập, sự công bằng và thái độ với môi trường. Di sản của doanh nhân còn phải là một tổ chức có thể tiếp tục phát triển khi người sáng lập không còn điều hành. Đến năm 2045, tôi mong thế giới tin sản phẩm Việt, tin doanh nghiệp Việt và tin người Việt.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nhật Minh (thực hiện)