
Có những quyết định được đưa ra trong thời khắc doanh nghiệp đứng trước cơ hội lớn. Cũng có những quyết định chỉ bộc lộ hết hệ quả sau nhiều năm, khi một quan hệ hợp tác rạn nứt, một cam kết không thể thực hiện hoặc một tranh chấp vượt khỏi phạm vi thương lượng.
Trong kinh doanh, sự quyết đoán thường được xem là phẩm chất của người lãnh đạo. Nhưng quyết đoán đến đâu, chấp nhận rủi ro ở mức nào và khi nào cần dừng lại để bảo vệ lợi ích lâu dài của doanh nghiệp là những câu hỏi không dễ có lời giải.
Từ gần 30 năm hành nghề luật sư và kinh nghiệm tham gia giải quyết các tranh chấp thương mại, TS. LS. Châu Huy Quang nhìn nhận bản lĩnh doanh nhân không chỉ ở tinh thần dấn thân mà còn ở khả năng nhận diện giới hạn, tôn trọng cam kết và chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình.
Cuộc trao đổi giữa Doanh nhân & Công lý với luật sư, trọng tài viên Châu Huy Quang nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10) vì thế không chỉ nói về hợp đồng, tranh chấp hay các thiết chế tài phán. Đằng sau những vấn đề pháp lý là câu chuyện về niềm tin, trách nhiệm và năng lực đưa doanh nghiệp đi đường dài.
TS. LS. Châu Huy Quang: Theo tôi, bản lĩnh của một doanh nhân trước hết thể hiện ở tính dấn thân, cách họ đối mặt với những khó khăn, thách thức và bất trắc trên thương trường. Đó là tinh thần tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân, dám lựa chọn và dám chịu trách nhiệm đến cùng về những quyết định của mình.
Bởi trên thương trường, không phải mọi quyết định đều có thể đúng, nhưng bản lĩnh của người doanh nhân được thể hiện ở khả năng đứng vững trước thử thách, thích ứng với thay đổi và tiếp tục tiến về phía trước. Lẽ thường, một quyết định khó khăn thường vì tiềm ẩn rủi ro thương mại và rủi ro pháp lý. Doanh nhân phải đủ quyết đoán để nắm bắt cơ hội, nhưng cũng biết thận trọng để ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra.
Tôi cho rằng nói chung doanh nhân bản lĩnh cũng là người biết đánh giá tình hình, dự báo rủi ro và đưa ra quyết định đúng lúc, có cân nhắc, hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp mình với lợi ích xã hội khi đưa ra quyết sách.
TS. LS. Châu Huy Quang: Như tôi đề cập trên, doanh nhân cần có sự quyết đoán để tận dụng cơ hội kinh doanh, nhưng đồng thời cũng phải đủ thận trọng để đánh giá và phòng ngừa những rủi ro về thương mại và pháp lý có thể phát sinh định kỳ hoặc đột xuất.

Tôi nhớ nhà đầu tư lừng danh như tỷ phú Warren Buffett có đại ý hay rằng trên thương trường phải biết sợ hãi khi người khác tham lam và biết tham lam khi người khác sợ hãi (“Be fearful when others are greedy, and be greedy when others are fearful”). Điều đó cũng phần nào cho thấy bản lĩnh của người gánh vác đầu tàu doanh nghiệp biết tận dụng cơ hội đi kèm cùng rủi ro dựa trên niềm tin nội tâm của mình, thay vì bị cuốn theo những xu hướng nhất thời của thương trường.
Rủi ro trong kinh doanh thì lúc nào cũng có. Do vậy, vấn đề không phải là tránh hết hoặc đợi loại bỏ hết rủi ro, mà là doanh nghiệp có thể chấp nhận rủi ro đến mức nào và có đủ khả năng xử lý khi rủi ro, khủng hoảng xảy ra tới đâu.
Khi cân nhắc một cơ hội kinh doanh, tôi thấy các nhà đầu tư, khách hàng của mình, thường căn cứ ngoài tiêu chí lợi nhuận, còn phải đánh giá khả năng xảy ra rủi ro, mức độ thiệt hại khi có rủi ro, và khả năng kiểm soát, vượt qua của doanh nghiệp. Riêng vấn đề pháp lý, tôi cho rằng việc đánh giá rủi ro luôn cần được thực hiện từ xa, từ sớm, ngay trước cả thời điểm doanh nghiệp còn cân nhắc phương án kinh doanh. Khi đã phát triển thương vụ, đã thực hiện hợp đồng hoặc tới khi tranh chấp phát sinh rồi mới cần hỗ trợ pháp lý có thể sẽ rất muộn.
Chúng tôi đã từng tư vấn và hỗ trợ nhiều nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài (FDI) trong các tranh chấp có giá trị lên tới hàng trăm triệu USD trước các cơ quan tài phán quốc tế, đặc biệt trong các dự án xây dựng, cơ sở hạ tầng và năng lượng.
Thực tiễn cho thấy, chỉ một vài sơ suất trong việc soạn thảo hoặc đàm phán các điều khoản hợp đồng, hoặc thực hiện một số thông báo và trao đổi không phù hợp trong quá trình giải thích, thực hiện hợp đồng, cũng có thể dẫn đến những hệ quả tài chính và nghĩa vụ bồi hoàn thương mại ngoài dự liệu.
Trong một số trường hợp, do bức xúc trước việc chủ đầu tư chậm thanh toán, nhà thầu đã đơn phương quyết định tạm dừng thi công hoặc chấm dứt hợp đồng khi chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện để thực hiện quyền này. Một quyết định tưởng như nhằm tạo áp lực trong ngắn hạn có thể làm phát sinh những hệ quả pháp lý và tài chính rất lớn, đồng thời đẩy tranh chấp vào tình huống phức tạp hơn.
Tương tự, khi hỗ trợ pháp lý cho nhà đầu tư cung cấp dịch vụ công ích, việc chậm thanh toán phí dịch vụ có thể tạo ra áp lực đáng kể. Tuy nhiên, thay vì đơn phương đình chỉ hoặc chấm dứt việc cung cấp dịch vụ, khi việc này có thể không được pháp luật hoặc hợp đồng cho phép, cần cân nhắc các biện pháp pháp lý và thương mại phù hợp hơn để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà vẫn duy trì tính liên tục của dự án và dịch vụ.
Tư vấn luật đôi khi chúng tôi cũng kiêm chức năng như một “phanh giảm” hoặc “van xả”, giúp giảm áp lực để các bên có thể tìm được tiếng nói chung và một giải pháp hài hòa hơn.

TS. LS. Châu Huy Quang: Theo tôi, sự tin tưởng, chữ tín là nền tảng của nhiều mối quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ hợp tác kinh doanh. Nhưng trong thương trường thiên biến vạn hóa, niềm tin cũng cần được cụ thể hóa bằng những thỏa thuận rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như “bộ chế tài” kèm theo. Chính những thỏa thuận có tính ràng buộc pháp lý đó sẽ giúp cụ thể hóa, củng cố niềm tin và duy trì quan hệ đối tác hợp tác lâu dài.
Một thỏa thuận hợp tác kinh doanh tốt cần làm rõ một số vấn đề cơ bản như ngoài minh định rõ quyền và nghĩa vụ của từng bên, cần có chế tài đủ mạnh và đủ tính răn đe hành vi vi phạm, cơ chế quản trị và ra quyết định, quyền điều hành, tỷ lệ phân chia lợi ích, việc góp vốn hoặc đóng góp các nguồn lực khác, quyền tiếp cận thông tin và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu coi thỏa thuận hợp tác kinh doanh như một cuộc hôn phối lành mạnh, thì bên cạnh cơ chế “hợp hôn” cũng nên có một cơ chế “ly hôn” lành mạnh. Khi sự hợp tác không còn hiệu quả, tốt đẹp, các bên vẫn có thể chia tay, thoái vốn hoặc chấm dứt quan hệ hợp tác trên cơ sở công bằng, bình đẳng, tôn trọng và duy trì hòa khí tốt đẹp.
Có một điểm tôi thấy đặc biệt quan trọng là phải tính trước cách xử lý khi các bên gặp tình huống “thế bế tắc” (deadlock), không còn tự thống nhất được với nhau. Lúc doanh nghiệp còn quy mô nhỏ, quan hệ giữa các bên còn tốt đẹp, nhiều doanh nhân dễ xuê xoa với nhau. Nhưng khi doanh nghiệp phát triển, lợi ích ngày càng lớn, quan điểm của các bên, đôi khi ngay cả giữa những người thân thiết, có thể khác biệt, mâu thuẫn không hàn gắn được. Khi đó, những vấn đề chưa được thỏa thuận rõ ngay từ đầu hoặc không dự trù tính trước cơ chế, cách thức giải quyết khi có phát sinh khác biệt thì rất dễ trở thành nguyên nhân dẫn đến tranh chấp không thể cứu vãn.
Vì vậy, tôi vẫn cho rằng một hợp đồng hợp tác đầu tư, kinh doanh được soạn thảo tốt, chặt chẽ là cơ sở gia cố niềm tin và giúp tạo điều kiện đủ để chữ tín có điều kiện được nuôi dưỡng. Do vậy, không nên chỉ làm ăn dựa trên tình thân hoặc sự hữu hảo, thân tình mà bỏ qua một ràng buộc pháp lý rõ ràng giúp bảo vệ niềm tin và duy trì quan hệ hợp tác, nhất là khi hoàn cảnh, lợi ích hoặc kỳ vọng của các bên thay đổi.
TS. LS. Châu Huy Quang: Theo tôi, khi xảy ra tranh chấp, người đứng đầu doanh nghiệp cần cân nhắc một số yếu tố. Trước hết là việc được mất về khía cạnh tài chính, khả năng thắng thua, khả năng thu hồi tài sản và những hệ lụy tài sản và phi tài sản có thể xảy ra. Ảnh hưởng của tranh chấp đối với quan hệ với đối tác, không chỉ trong giao dịch hiện tại mà cả những cơ hội hợp tác lâu dài. Ngoài ra, còn phải tính đến thời gian, chi phí, công sức và uy tín của doanh nghiệp nếu tranh chấp kéo dài.
Từ thực tế gần 30 năm hành nghề luật sư, cũng như gần 20 năm tham gia làm trọng tài viên giải quyết tranh chấp thương mại, tôi thấy trong văn hóa kinh doanh của người Việt Nam, các bên thường coi trọng uy tín cá nhân, sự hài hòa, thân tình và muốn giữ quan hệ tình cảm với nhau. Đó cũng là một điểm khác biệt đáng kể so với văn hóa kinh doanh phương Tây, nơi luật lệ và lý lẽ được coi trọng và đôi khi là công cụ duy nhất.
Vì vậy, theo tôi, doanh nghiệp Việt Nam nên phát huy và duy trì thiện chí, ưu tiên trung thực, thương lượng và hòa giải khi còn có khả năng tìm được tiếng nói chung. Đây cũng là cách giải quyết các khác biệt, bất đồng mà vẫn giữ được đối tác lâu dài, cũng như chữ tín trong xã hội.
Nỗ lực hòa giải thương mại với thiện chí của các bên là ưu tiên, nhưng cũng cần sẵn sàng cơ chế phòng ngừa cho trường hợp không thể giải quyết bằng thương lượng hoặc hòa giải. Đặc biệt, trong các thương vụ hợp tác có yếu tố nước ngoài, doanh nghiệp cần cân nhắc lựa chọn cơ quan tài phán là Tòa án hoặc trọng tài thương mại.
Với những tranh chấp kinh doanh, nhất là có yếu tố quốc tế, trọng tài thương mại có thể là lựa chọn phù hợp nhờ tính linh hoạt, bảo mật và khả năng lựa chọn người giải quyết tranh chấp có chuyên môn, cũng như khả năng được công nhận và thực thi phán quyết ngoài biên giới quốc gia.
Như bạn biết, Việt Nam cũng là thành viên của Công ước New York 1958 từ năm 1995. Vì vậy, về nguyên tắc, một phán quyết của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) có thể được yêu cầu công nhận và thi hành tại 172 quốc gia thành viên của Công ước New York. Với tính linh hoạt và khả năng thực thi có tính phổ quát như vậy, tôi nghĩ về lâu dài doanh nghiệp Việt Nam sẽ ngày càng quen thuộc hơn với phương thức giải quyết tranh chấp này.
Mặt khác, việc khởi kiện cũng là biện pháp pháp lý cần thiết để bảo lưu quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Nhưng ngay cả khi khởi kiện ra trọng tài thì cũng không đồng nghĩa với việc cánh cửa cho thương lượng, hòa giải đã chấm dứt.
Thực tế hành nghề luật, cũng như trọng tài viên, hòa giải viên thương mại, chúng tôi đã hỗ trợ nhiều bên đạt được thỏa thuận hòa giải, dù cho vụ việc đã trong quá trình tố tụng.
Ngoài sự tư vấn, hỗ trợ của luật sư, việc doanh nhân luôn linh hoạt, uyển chuyển trong cách xử lý tranh chấp phát sinh, ưu tiên quyền lợi của doanh nghiệp mình nhưng cũng biết hài hòa hợp lý với lợi ích chính đáng của đối tác là điều rất cần thiết. Đó cũng là đúng nghĩa của tinh thần “Không muốn làm thì tìm nguyên nhân, muốn làm thì tìm giải pháp” (There is a will, there is a way). Tinh thần đó cũng giúp doanh nghiệp đủ đề kháng vượt qua những phiền hà, hệ lụy phát sinh trên thương trường của mình.
Tư vấn luật đôi khi chúng tôi cũng kiêm chức năng như một “phanh giảm” hoặc “van xả”, giúp giảm áp lực để các bên có thể tìm được tiếng nói chung và một giải pháp hài hòa hơn.

TS. LS. Châu Huy Quang: Khi làm ăn với đối tác nước ngoài, tôi nghĩ doanh nghiệp Việt cần quán triệt rằng năng lực pháp lý cũng là một phần quan trọng của năng lực kinh doanh.
Các nhà đầu tư vào Việt Nam mà tôi từng tiếp xúc từ những ngày đầu Việt Nam mở cửa thị trường cho doanh nghiệp FDI, ngay từ ngày đầu vào tìm hiểu thị trường, thành lập doanh nghiệp, đa phần họ tìm hai nhân sự đầu tiên là tư vấn pháp lý và tài chính, kế toán. Trong các giao dịch quốc tế, đối tác nước ngoài coi trọng việc đàm phán, ký kết hợp đồng và cam kết khả năng thực hiện hợp đồng. Việc doanh nghiệp Việt Nam xem nhẹ việc giao kết, thực thi hợp đồng, thực chất xem đó như một loại thủ tục hành chính, tuân thủ đơn thuần, dẫn đến khả năng “phá bỏ” hợp đồng bằng nhiều lý do, luôn là nỗi than phiền của đối tác nước ngoài.
Do vậy, văn hóa thân tình, hữu hảo, trọng chữ tín, tin lời nhau thì cũng phải quen với việc “bút sa, gà chết”, nghĩa là cần thận trọng trong việc giao kết hợp đồng, thương vụ của mình. Khi đã ký thì phải thực hiện hợp đồng bằng mọi khả năng tối đa của mình.
Nhiều trường hợp cho thấy, sự sơ sài, lơ là trong các điều khoản hợp đồng, hoặc cam kết hợp đồng vượt quá khả năng, thẩm quyền mình có thể thực hiện, có thể dẫn đến khi có tranh chấp tại cơ quan tài phán thứ ba, nhất là cơ quan tài phán quốc tế, thì khả năng doanh nghiệp Việt Nam rơi vào tình trạng “thiệt đơn, thiệt kép” là rất lớn.Cho nên, tôi vẫn xem đó là bài học cần trải nghiệm, là một bài học cũ nhưng vẫn mới đối với doanh nghiệp Việt Nam.
TS. LS. Châu Huy Quang: Nếu được gửi một lời khuyên đến các doanh nhân Việt Nam, tôi xin đúc kết lại những điều đã nói ở trên. Theo tôi, để một doanh nghiệp phát triển bền vững, bài bản và có thể đi đường dài, điều kiện cần trước hết là năng lực tài chính, năng lực kinh doanh và sự am hiểu cốt lõi về lĩnh vực mà mình hoạt động.
Điều kiện đủ là doanh nghiệp phải đầu tư thỏa đáng và bài bản cho năng lực pháp lý, quản trị rủi ro, cũng như xây dựng một bộ máy tài chính - kế toán chuyên nghiệp, minh bạch và lành mạnh.
Đây là điều tôi đúc kết từ thực tiễn hoạt động của nhiều doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Những doanh nghiệp phát triển bền vững và ngày càng thành công thường không chỉ có năng lực kinh doanh và tài chính tốt, mà còn đặc biệt coi trọng pháp lý, quản trị rủi ro và kỷ luật tài chính ngay từ đầu.
Về môi trường pháp lý, điều tôi kỳ vọng là các quy định pháp luật ngày càng minh bạch, nhất quán và có tính dự đoán cao hơn. Một môi trường pháp lý lành mạnh phải đóng vai trò như một kim chỉ nam, giúp doanh nghiệp nhận diện và phòng ngừa rủi ro pháp lý từ sớm, từ xa, chứ không phải là một chuỗi với những “cạm bẫy” pháp lý vô tình và vô hình, để doanh nghiệp quen dần với cái sai, vô tình trượt dài, lún sâu mà không có điểm dừng.
Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, với tư cách là đội ngũ hỗ trợ pháp lý cho các doanh nhân và nhà đầu tư, chúng tôi xin bày tỏ sự trân trọng và cảm kích đối với bản lĩnh, tinh thần quả cảm và sự kiên cường của cộng đồng doanh nhân Việt Nam, cũng như các nhà đầu tư FDI đang lựa chọn Việt Nam làm nơi đầu tư, kinh doanh và phát triển.
Chúng tôi tin một Việt Nam đang đổi mới, phát triển và hội nhập, trong đó có sự đóng góp quan trọng của cộng đồng doanh nhân Việt. Chúng tôi kỳ vọng tiếp tục được đồng hành cùng các doanh nhân và nhà đầu tư trên hành trình kiến tạo giá trị, thúc đẩy đổi mới và góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế và xã hội Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn ông!
Nhật Minh (thực hiện)

