Doanh nghiệp truyền thông và bài học từ những vụ án vi phạm bản quyền số
Việc Bộ Công an liên tiếp khởi tố các vụ án xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan thời gian gần đây cho thấy công tác thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ trên môi trường số đang được tăng cường. Đây cũng là lời nhắc để doanh nghiệp truyền thông, giải trí chủ động rà soát hoạt động khai thác nội dung, hoàn thiện quy trình quản trị bản quyền và nâng cao năng lực tuân thủ nhằm hạn chế rủi ro pháp lý.

Thời gian gần đây, Bộ Công an và Công an TP. Hồ Chí Minh liên tục khởi tố nhiều vụ án liên quan đến hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan xảy ra tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, giải trí và khai thác nội dung số. Đây được xem là động thái mạnh nhằm thực hiện Công điện số 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Đáng chú ý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã khởi tố 5 vụ án hình sự về tội "Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan" theo Điều 225 Bộ luật Hình sự, xảy ra tại nhiều doanh nghiệp và đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nội dung số như Công ty cổ phần Thương mại và Dịch vụ truyền thông Bihaco (BH Media), Công ty TNHH Lululola Entertainment, Công ty TNHH Mây Sài Gòn cùng một số tổ chức, hộ kinh doanh khác.
Đầu tháng 7/2026, Bộ Công an tiếp tục khởi tố vụ án "Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan" và "Rửa tiền" đối với nhóm đối tượng vận hành hơn 100 website đăng tải trái phép hơn 26.000 bộ phim có bản quyền, thu lợi bất chính khoảng 12,85 triệu USDT (đồng tiền mã hóa ổn định neo theo giá USD), tương đương khoảng 308 tỷ đồng từ quảng cáo trên môi trường mạng.
Không phải mọi vi phạm bản quyền đều bị xử lý hình sự
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, chủ thể sử dụng tác phẩm khi chưa được phép của chủ sở hữu có thể phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, bồi thường thiệt hại hoặc chịu xử phạt vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, khi hành vi xâm phạm quyền tác giả được thực hiện với mục đích thương mại và đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 225 Bộ luật Hình sự, cá nhân hoặc pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc đánh giá có truy cứu trách nhiệm hình sự hay không được cơ quan tiến hành tố tụng xem xét trên cơ sở toàn bộ hành vi, mức độ vi phạm, hậu quả gây ra và các điều kiện luật định, chứ không chỉ căn cứ vào việc nội dung được đăng tải trên YouTube hay nền tảng số nào.
Điều này đồng nghĩa với việc môi trường Internet không phải là "vùng trống pháp luật". Hoạt động sao chép, phát sóng, truyền đạt tác phẩm đến công chúng hoặc khai thác tác phẩm để thu lợi trên các nền tảng số đều thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật hình sự.
Doanh nghiệp cũng có thể là chủ thể bị truy cứu
Một điểm đáng lưu ý là Bộ luật Hình sự hiện hành cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại về một số tội danh, trong đó có tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.
Điều đó có nghĩa, nếu hành vi vi phạm được thực hiện nhân danh doanh nghiệp, vì lợi ích của doanh nghiệp và đáp ứng các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, không chỉ người quản lý trực tiếp mà chính doanh nghiệp cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự với các chế tài như phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng các biện pháp tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
Thực tế các vụ án được Bộ Công an công bố thời gian qua cho thấy nhiều hành vi vi phạm được tổ chức theo mô hình doanh nghiệp, có bộ phận sản xuất nội dung, kinh doanh, quảng cáo, kế toán và hệ thống tài khoản trên các nền tảng số để khai thác tác phẩm, chương trình hoặc bản ghi âm, ghi hình nhằm thu lợi.
Sự phát triển của kinh tế số mang lại nhiều cơ hội để doanh nghiệp khai thác doanh thu từ YouTube, Facebook, TikTok và các nền tảng trực tuyến. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là yêu cầu ngày càng cao về tuân thủ pháp luật sở hữu trí tuệ.
Theo các chuyên gia pháp lý, doanh nghiệp cần xây dựng quy trình kiểm soát bản quyền ngay từ khâu sản xuất nội dung; chỉ sử dụng tác phẩm khi đã được cấp phép hoặc thuộc trường hợp được pháp luật cho phép; lưu giữ đầy đủ hợp đồng chuyển giao, cấp phép quyền tác giả và thường xuyên rà soát tính hợp pháp của các nội dung đang khai thác trên môi trường số.
Việc đầu tư cho hệ thống quản trị bản quyền không chỉ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro pháp lý mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh và nâng cao uy tín thương hiệu trong nền kinh tế số.