6 trường hợp được xác định đang đóng bảo hiểm thất nghiệp
Chính phủ ban hành Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp; trong đó quy định rõ đối tượng đóng, mức đóng và mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp...
Nghị định mới của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Việc làm và Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã cụ thể hóa nhiều nội dung quan trọng liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), từ cách xác định người lao động đang đóng BHTN, mức đóng - nguồn đóng, cơ chế hỗ trợ của Nhà nước đến điều kiện, mức hưởng và thời hạn chi trả trợ cấp thất nghiệp.
Các quy định này chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, được kỳ vọng sẽ bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người lao động, đồng thời tăng tính bền vững của Quỹ BHTN.

6 trường hợp người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp
Nghị định nêu rõ: Người lao động được xác định là đang đóng BHTN theo quy định tại Điều 36 và Điều 38 Luật Việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Người lao động đã đóng BHTN của tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
Người lao động đã đóng BHTN của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc do ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
Người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng BHTN cho người lao động quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc.
Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 1% tiền lương tháng
Nghị định quy định rõ, người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN.
Cụ thể, đối với khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước, Nghị định phân định rõ trách nhiệm bảo đảm nguồn đóng: Cơ quan, đơn vị được ngân sách bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên thì ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ phần đóng BHTN; trường hợp chỉ được ngân sách bảo đảm một phần kinh phí thì ngân sách chỉ bảo đảm phần đóng cho số người hưởng lương từ ngân sách, phần còn lại do đơn vị tự bảo đảm.
Với doanh nghiệp và các tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khoản đóng BHTN được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ; các cơ quan, tổ chức khác sử dụng từ nguồn kinh phí hoạt động theo quy định pháp luật.
Nghị định cũng quy định rõ nguyên tắc Nhà nước hỗ trợ Quỹ BHTN nhằm bảo đảm an toàn tài chính dài hạn.
Theo đó, ngân sách trung ương hỗ trợ Quỹ BHTN theo nguyên tắc duy trì số dư quỹ hằng năm bằng 2 lần tổng các khoản chi của năm trước liền kề, bao gồm chi các chế độ BHTN và chi cho tổ chức, hoạt động BHTN, nhưng mức hỗ trợ tối đa không quá 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của người lao động đang tham gia.
Hằng năm, vào quý IV, BHXH Việt Nam căn cứ dự toán thu - chi được giao để xác định mức kinh phí hỗ trợ, gửi Bộ Tài chính chuyển một lần vào Quỹ BHTN. Sau khi quyết toán, trường hợp đã cấp thừa thì phải hoàn trả ngân sách, trường hợp cấp thiếu thì được xem xét bổ sung vào năm sau, bảo đảm công khai, minh bạch và kỷ luật tài chính.
Rút ngắn thời hạn chi trả trợ cấp thất nghiệp
Một điểm mới đáng chú ý khác là chính sách ưu đãi đối với người sử dụng lao động khi tuyển dụng và sử dụng người lao động là người khuyết tật.
Theo đó, người sử dụng lao động được giảm mức đóng BHTN từ 1% xuống 0% đối với phần trách nhiệm của mình cho người lao động là người khuyết tật trong thời gian làm việc, nhưng tối đa không quá 12 tháng đầu kể từ khi tuyển mới.
Để được hưởng chính sách này, người sử dụng lao động phải đăng ký với cơ quan BHXH và nộp kèm bản sao giấy xác nhận khuyết tật của từng người lao động.
Về chế độ trợ cấp thất nghiệp, Nghị định giữ nguyên nguyên tắc tính mức hưởng bằng 60% mức lương bình quân của 6 tháng liền kề có đóng BHTN trước khi thất nghiệp.
Trường hợp người lao động có thời gian gián đoạn đóng BHTN ở những tháng cuối trước khi thất nghiệp, mức hưởng được tính trên bình quân tiền lương của 6 tháng đã đóng BHTN trước khi chấm dứt hợp đồng. Mức trợ cấp hằng tháng tối đa không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động. Tháng hưởng trợ cấp được tính theo tháng dương lịch, với cách xác định thời gian hưởng cụ thể, thống nhất, hạn chế tranh chấp và cách hiểu khác nhau trong thực tiễn.
Đáng chú ý, Nghị định rút ngắn và làm rõ thời hạn chi trả trợ cấp thất nghiệp. Theo đó, cơ quan BHXH thực hiện chi trả trợ cấp trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người lao động hết thời hạn nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc hết thời hạn thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng, qua đó góp phần bảo đảm kịp thời quyền lợi của người lao động khi rơi vào tình trạng thất nghiệp.
Với việc có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, Nghị định được đánh giá là bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về BHTN, vừa bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động, vừa tăng cường tính bền vững, minh bạch và an toàn tài chính của Quỹ BHTN trong bối cảnh thị trường lao động tiếp tục biến động.