Doanh nhân & Công lý | Đồng hành cùng doanh nhân, doanh nghiệp Việt Y tế - Giáo dục

Để tổ chức, cá nhân tiếp thị thuốc lá sai quy định sẽ bị xử phạt đến 30 triệu đồng

Để tổ chức, cá nhân tiếp thị thuốc lá sai quy định sẽ bị xử phạt đến 30 triệu đồng

Thành Nam

Chính phủ siết chặt xử phạt vi phạm liên quan thuốc lá: Từ việc sử dụng, tiếp thị đến gian lận tài chính, mức phạt cao nhất lên đến 40 triệu đồng. Nghị định mới dự kiến thay đổi quan niệm sử dụng thuốc lá từ 2026.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 90/2026/NĐ-CP ngày 30/3/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, trong đó Điều 29 quy định mức phạt với hành vi vi phạm quy định khác về phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Theo đó, phạt tiền từ 200 nghìn đồng đến 500 nghìn đồng đối với người từ đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi có hành vi sử dụng thuốc lá.

Phạt tiền từ 500 nghìn đồng đến 1 triệu đồng đối với một trong các hành vi vận động, ép buộc người khác sử dụng thuốc lá; Sử dụng người chưa đủ 18 tuổi mua thuốc lá.

Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng đối với hành vi không có biển thông báo không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi tại điểm bán của đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá.

Phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng đối với việc để cho tổ chức, cá nhân tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng tại cơ sở thuộc quyền quản lý, điều hành.
Phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng đối với việc để cho tổ chức, cá nhân tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng tại cơ sở thuộc quyền quản lý, điều hành.

Phạt tiền từ 3 đến 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Sử dụng hình ảnh thuốc lá trên báo chí, xuất bản phẩm dành riêng cho trẻ em; Cung cấp thông tin không có cơ sở khoa học, không chính xác về thuốc lá và tác hại của thuốc lá;

Không đưa nội dung phòng, chống tác hại của thuốc lá vào kế hoạch hoạt động hằng năm, không đưa quy định cấm hút thuốc lá tại nơi làm việc vào quy chế nội bộ; Không hạn chế hình ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá trong các tác phẩm sân khấu, điện ảnh theo quy định của pháp luật.

Trưng bày quá một bao hoặc một tút hoặc một hộp của một nhãn hiệu thuốc lá tại đại lý bán lẻ, điểm bán lẻ thuốc lá; Bán, cung cấp thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi;

Bán, cung cấp thuốc lá không ghi nhãn, không in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bán thuốc lá không ghi nhãn, không in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá là thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả thì thực hiện xử phạt theo quy định của pháp luật về hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Sử dụng tên, nhãn hiệu và biểu tượng của sản phẩm thuốc lá với sản phẩm, dịch vụ khác; Tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng dưới mọi hình thức;

Để cho tổ chức, cá nhân tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng tại cơ sở thuộc quyền quản lý, điều hành; Chậm nộp khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật; Khai sai dẫn đến nộp thiếu khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật;

Sử dụng kinh phí hỗ trợ của Quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá không đúng quy định của pháp luật;

Doanh nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, thông báo về việc tài trợ của tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá.

Thuốc lá, đặc biệt là thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng rất nguy hại đối với sức khỏe con người.
Thuốc lá, đặc biệt là thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng rất nguy hại đối với sức khỏe con người.

Đặc biệt, quy định phạt tiền từ 30 đến 40 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Thực hiện hoạt động tài trợ dưới bất kỳ hình thức nào, trừ trường hợp được phép theo quy định của pháp luật; Trốn, gian lận khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật.

Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:

Buộc thu hồi sản phẩm và buộc loại bỏ yếu tố vi phạm đối với hành vi quy định tại các điểm a, b, d khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều này. Trường hợp không khắc phục được yếu tố vi phạm thì buộc tiêu hủy;

Buộc hoàn trả số tiền lãi từ khoản chênh lệch do nộp chậm khoản đóng góp bắt buộc đối với hành vi quy định tại điểm d khoản 4 Điều này;

Buộc hoàn trả số tiền do sử dụng sai quy định đối với hành vi quy định tại điểm e khoản 4 Điều này;

Buộc hoàn trả số tiền phải nộp và số tiền lãi (nếu có) do kê khai sai, trốn, gian lận khoản đóng góp bắt buộc đối với hành vi quy định tại điểm đ khoản 4 và điểm b khoản 5 Điều này.

Nghị định số 90/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/5/2026.

TIN MỚI