Giá vàng sáng 14/10: SJC giữ mốc 144,3 triệu đồng/lượng, giá mua phân hóa
Sáng 14/10, giá vàng miếng SJC tiếp tục được niêm yết ở mức 144,3 triệu đồng/lượng bán ra. Trong khi nhiều doanh nghiệp chưa điều chỉnh giá, Mi Hồng ghi nhận mức tăng 400.000 đồng/lượng so với mốc tham chiếu phiên trước. Giá vàng nhẫn giữa các thương hiệu tiếp tục có sự chênh lệch đáng kể.

Giá vàng miếng SJC duy trì mốc 144,3 triệu đồng/lượng
Theo bảng giá được ghi nhận đầu sáng 14/10, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết vàng miếng loại 1 lượng, 10 lượng và 1 kg ở mức 141,3 triệu đồng/lượng mua vào và 144,3 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi so với phiên trước. Chênh lệch giữa hai chiều giao dịch là 3 triệu đồng/lượng.
Tại DOJI, PNJ và Bảo Tín Mạnh Hải, giá vàng miếng SJC cũng được ghi nhận ở mức 141,3 - 144,3 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu niêm yết vàng miếng SJC ở mức 139,3 triệu đồng/lượng mua vào và 144,3 triệu đồng/lượng bán ra. Khoảng cách giữa hai chiều giao dịch lên tới 5 triệu đồng/lượng, cao hơn đáng kể so với nhiều doanh nghiệp khác.
Phú Quý công bố giá vàng miếng SJC ở mức 140,5 - 144,3 triệu đồng/lượng, tương ứng mức chênh lệch 3,8 triệu đồng/lượng. Trong phiên 13/10, doanh nghiệp đã giảm 300.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, trong khi giá bán không thay đổi.
Đáng chú ý, Mi Hồng ghi nhận mức giá 141,7 triệu đồng/lượng mua vào và 143,2 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 400.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với mốc tham chiếu phiên trước. Chênh lệch mua - bán tại doanh nghiệp này là 1,5 triệu đồng/lượng.
Tại Ngọc Thẩm, vàng miếng SJC được niêm yết ở mức 139,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra.
Vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu
Ở phân khúc vàng nhẫn, SJC niêm yết vàng nhẫn 99,99% loại 1 chỉ, 2 chỉ và 5 chỉ ở mức 140,8 triệu đồng/lượng mua vào, 143,8 triệu đồng/lượng bán ra. Đối với sản phẩm loại 0,3 chỉ và 0,5 chỉ, giá bán ở mức 143,9 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, nhẫn trơn 999,9 được niêm yết ở mức 140,8 - 143,8 triệu đồng/lượng. Các sản phẩm Kim Bảo và Phúc Lộc Tài 999,9 có cùng mức giá.
DOJI ghi nhận giá nhẫn tròn Hưng Thịnh Vượng ở mức 139,5 - 143,5 triệu đồng/lượng. Phú Quý niêm yết nhẫn tròn 999,9 ở mức 140,5 - 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu công bố giá nhẫn tròn trơn ở mức 139,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra, với mức chênh lệch 4 triệu đồng/lượng.
Tại Bảo Tín Mạnh Hải, sản phẩm vàng Kim Gia Bảo 24K được niêm yết ở mức 139,5 - 143,5 triệu đồng/lượng. Riêng nhẫn tròn 999,9 ghi nhận giá mua vào 138,5 triệu đồng/lượng, chưa có giá bán được xác minh trong dữ liệu khảo sát.
Ngoài vàng miếng và vàng nhẫn, nhóm vàng nữ trang cũng có sự khác biệt giữa các thương hiệu. Vàng nữ trang 99,99% tại SJC được niêm yết 138,3 - 142,8 triệu đồng/lượng; tại PNJ là 138 - 142,5 triệu đồng/lượng. DOJI ghi nhận mức 138,5 - 141,5 triệu đồng/lượng đối với vàng nữ trang 99,99%.
Giá vàng thế giới giảm, thị trường chờ dữ liệu lạm phát Mỹ
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay được ghi nhận khoảng 4.162 USD/ounce vào rạng sáng 14/10, giảm khoảng 26 USD/ounce, tương đương 0,63% so với mốc tham chiếu của phiên trước.
Theo Reuters, giá vàng chịu sức ép khi giới đầu tư chờ đợi dữ liệu lạm phát Mỹ và các tín hiệu chính sách tiền tệ từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Báo cáo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ dự kiến công bố ngày 14/10, tiếp theo là chỉ số giá sản xuất (PPI) ngày 15/10. Đây là những thông tin được thị trường theo dõi để đánh giá triển vọng lãi suất trong thời gian tới.
Lãi suất và lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao có thể ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của vàng, do kim loại quý không mang lại thu nhập từ lãi. Bên cạnh đó, diễn biến đồng USD và nhu cầu nắm giữ tài sản an toàn tiếp tục là những yếu tố tác động đến thị trường.
Đối với thị trường trong nước, mức chênh lệch mua - bán từ 1,5 triệu đến 5 triệu đồng/lượng tại các doanh nghiệp trong nhóm khảo sát cho thấy sự khác biệt đáng kể về giá giao dịch. Người mua cần đối chiếu giá theo từng thương hiệu và loại sản phẩm, thay vì chỉ căn cứ vào mức bán ra được công bố.
* Các mức giá trong bài được ghi nhận từ bảng niêm yết cuối phiên 13/10 và dữ liệu cập nhật đầu sáng 14/10, trước giờ mở cửa giao dịch. Giá thực tế có thể thay đổi trong ngày.