Gỡ điểm nghẽn, đưa chuyển đổi số từ “có” sang “dùng được”
Việc xây dựng nền tảng, cơ sở dữ liệu và hạ tầng số đang được đẩy mạnh tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, một hệ thống chỉ thực sự phát huy giá trị khi dữ liệu được kết nối, hạ tầng đủ năng lực, con người có khả năng vận hành và trách nhiệm được phân định rõ.
Những năm qua, chuyển đổi số đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong phương thức quản lý, điều hành ở nhiều bộ, ngành và địa phương. Các kho dữ liệu, nền tảng số, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến từng bước được hình thành, tạo nền tảng cho quá trình chuyển từ quản lý thủ công sang môi trường số.

Quy mô sử dụng dịch vụ công trực tuyến trong năm 2026 cho thấy mức độ số hóa đang tăng nhanh. Trong 5 tháng đầu năm, các hệ thống đã tiếp nhận hơn 15,5 triệu hồ sơ trực tuyến trên tổng số 16,3 triệu hồ sơ, tương đương 93,88%; riêng tại địa phương, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 93,54%, tỷ lệ giải quyết đúng hoặc trước hạn đạt 94,26%. Tỷ lệ số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính cũng đạt 88,56%.
Tuy nhiên, những con số này đồng thời đặt ra một yêu cầu khác: không thể đánh giá hiệu quả chuyển đổi số chỉ bằng số lượng hồ sơ được đưa lên môi trường trực tuyến. Cùng với tỷ lệ sử dụng, vấn đề quan trọng hơn là thủ tục có thực sự đơn giản hơn, thời gian giải quyết có được rút ngắn và người dân có thể tự thực hiện mà không cần thêm sự hỗ trợ hay không. Chính cơ quan quản lý cũng xác định trải nghiệm thực tế của người dân mới là một trong những thước đo quan trọng của quá trình này.
Những điểm nghẽn nào cần tháo gỡ?
Đợt cao điểm 100 ngày xử lý điểm nghẽn chuyển đổi số được triển khai với 50 nhiệm vụ trọng tâm tại Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW, thực hiện trong 100 ngày làm việc, từ ngày 10/7 đến hết ngày 30/11/2026. Mục tiêu không chỉ là hoàn thành các nhiệm vụ số hóa, mà quan trọng hơn là tạo chuyển biến trong cách thức vận hành, để các hệ thống số thực sự tạo ra hiệu quả trong quản lý và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW xác định 10 nhóm vấn đề cần tập trung xử lý, từ thể chế chưa đồng bộ, trách nhiệm quản lý và chia sẻ dữ liệu chưa rõ đến hạ tầng số thiếu và không đồng đều. Đáng chú ý, dữ liệu vẫn phân tán, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; một số nền tảng còn trùng lặp, thiếu liên thông, trong khi dịch vụ công chưa thực sự thuận tiện, người dân vẫn phải khai báo lại thông tin đã có.
Thực tế tại các địa phương cho thấy, điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở việc thiếu công nghệ, mà nằm ở khả năng kết nối và vận hành công nghệ. Đà Nẵng đã có 94 cơ sở dữ liệu dùng chung, hơn 1.000 bộ dữ liệu được tích hợp vào kho dữ liệu tập trung và hơn 2.500 bộ dữ liệu mở. Tuy nhiên, việc chuẩn hóa và liên thông giữa các hệ thống mới đạt kết quả bước đầu. Điều này cho thấy quy mô dữ liệu chưa quyết định hiệu quả; dữ liệu chỉ trở thành nguồn lực khi có thể kết nối và được khai thác đúng mục đích.

Bài toán nhân lực cũng đang tạo ra khoảng cách giữa hệ thống và khả năng vận hành. Tại Tuyên Quang, trong 326 người có trình độ công nghệ thông tin, chỉ 199 người được giao nhiệm vụ chuyên trách; lực lượng ở cấp xã chủ yếu kiêm nhiệm. Trong khi đó, toàn tỉnh vẫn còn 57 thôn lõm sóng di động. Những hạn chế về hạ tầng và nhân lực khiến việc mở rộng các dịch vụ số chưa thể đồng nghĩa với khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả.
Tại Tây Ninh, một số nhiệm vụ dù được xác định đã hoàn thành nhưng kết quả đầu ra chưa rõ, chất lượng tham mưu chưa đáp ứng yêu cầu và còn tình trạng vướng mắc không được báo cáo, xử lý kịp thời. Đây là dấu hiệu cho thấy chuyển đổi số cần được đánh giá bằng kết quả vận hành, thay vì chỉ bằng số lượng nhiệm vụ hoàn thành.
Vì vậy, tháo gỡ điểm nghẽn phải được thực hiện đồng thời từ thể chế, hạ tầng, dữ liệu đến nhân lực và trách nhiệm thực thi. Đích đến không phải là có thêm bao nhiêu hệ thống, mà là các hệ thống đó giải quyết được bao nhiêu vấn đề thực tế và tạo ra bao nhiêu giá trị mới.
Chuyển từ xây dựng hệ thống sang vận hành thực chất
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, yêu cầu trước hết là chuyển cách tiếp cận từ xây dựng hệ thống sang tổ chức vận hành và tạo ra kết quả cụ thể. Thực tế triển khai Kế hoạch 100 ngày cho thấy Bộ Khoa học và Công nghệ đã phân công rõ lãnh đạo phụ trách, đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, sản phẩm đầu ra và thời hạn hoàn thành đối với từng nhiệm vụ; đồng thời duy trì kiểm tra, đôn đốc và xử lý vướng mắc theo tiến độ. Đến ngày 8/9/2026, Bộ đã hoàn thành 6/20 nhiệm vụ, 14 nhiệm vụ đang được triển khai đúng tiến độ và không có nhiệm vụ quá hạn.
Một hướng ưu tiên khác là chuẩn hóa dữ liệu và biến dữ liệu thành hạ tầng dùng chung, thay vì tiếp tục phát triển các kho dữ liệu riêng lẻ. Đến ngày 20/8, Bộ đã kết nối 7/7 cơ sở dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu quốc gia, trong đó 6 cơ sở dữ liệu đã hoàn thành làm sạch và đồng bộ dữ liệu lịch sử ở mức tối thiểu 80%. Việc tiếp theo cần tập trung vào kết nối hệ thống giải quyết thủ tục hành chính với các cơ sở dữ liệu, để từng bước tự động điền, xác thực và tái sử dụng thông tin. Khi dữ liệu được khai thác theo cách này, người dân và doanh nghiệp sẽ không phải nhiều lần cung cấp những giấy tờ mà cơ quan nhà nước đã có.

Cùng với dữ liệu, hạ tầng và an toàn thông tin phải được xem là điều kiện vận hành, không phải những hạng mục đầu tư riêng biệt. Bộ đã tiếp nhận báo cáo về tình trạng lõm sóng tại các cơ quan nhà nước, cơ sở đào tạo và cơ sở y tế công lập từ 34/34 địa phương để phối hợp rà soát, xây dựng phương án khắc phục. Đối với các hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý của Bộ, 100% hệ thống cấp độ 4 và 5 đã có hồ sơ cấp độ, phương án ứng cứu, sao lưu, khôi phục và kiểm thử theo yêu cầu. Đây là nền tảng để bảo đảm hệ thống không chỉ “có thể vận hành” mà còn duy trì hoạt động ổn định, an toàn.
Một giải pháp có tính căn cơ là hạn chế đầu tư phân tán, thúc đẩy các nền tảng số dùng chung. Việc Bộ đưa ra tiêu chí đối với nền tảng số dùng chung quốc gia, trong đó yêu cầu khả năng đăng nhập một lần qua VNeID, có thể góp phần giảm tình trạng mỗi cơ quan xây dựng một hệ thống riêng, đồng thời đơn giản hóa trải nghiệm của người sử dụng.
Đặc biệt, chuyển đổi số cần đi cùng tái thiết kế quy trình, thay vì đơn thuần đưa quy trình cũ lên môi trường điện tử. Bộ đã hoàn thành tái cấu trúc 130 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý và lựa chọn 5 thủ tục có tần suất cao để thiết kế lại dựa trên dữ liệu. Đây là hướng đi quan trọng, bởi mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi số không phải số hóa nhiều hơn, mà là giải quyết công việc nhanh hơn, giảm yêu cầu giấy tờ và tạo ra trải nghiệm thuận tiện hơn cho người dân, doanh nghiệp.
Nhìn rộng hơn, xử lý điểm nghẽn chuyển đổi số không phải là nhiệm vụ chỉ hoàn thành trong 100 ngày, mà là bước chuyển trong cách tổ chức và vận hành nền quản trị số. Quan trọng hơn, chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa khi tạo ra thay đổi mà người dân và doanh nghiệp có thể cảm nhận được: ít thủ tục hơn, ít giấy tờ hơn, thời gian xử lý ngắn hơn và dịch vụ thuận tiện hơn. Từ “có hệ thống” đến “hệ thống hoạt động hiệu quả” chính là bước chuyển quyết định để chuyển đổi số đi vào thực chất.