Hưng Yên định hình động lực tăng trưởng từ công nghiệp, đầu tư và xuất nhập khẩu
Kinh tế Hưng Yên tăng trưởng 11,22% trong 9 tháng đầu năm 2026, xếp thứ 7/34 tỉnh, thành phố. Trong đó, công nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực, cùng với việc đẩy mạnh phát triển hạ tầng, giải ngân vốn đầu tư công và mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu tạo nền tảng cho tăng trưởng.

Động lực tăng trưởng
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh, 9 tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Hưng Yên ước đạt 218.672 tỷ đồng, tăng 11,22% so với cùng kỳ, vượt kịch bản đề ra và xếp thứ 7/34 tỉnh, thành phố. Tổng giá trị sản xuất ước đạt 647.611 tỷ đồng, tăng 12,76% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong mức tăng trưởng chung, công nghiệp tiếp tục đóng vai trò chủ lực khi tăng 14,84%, đóng góp 6,74 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 14,82%, đóng góp 1,28 điểm phần trăm; dịch vụ tăng 9,14%, đóng góp 2,37 điểm phần trăm; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,47%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,19%, đóng góp 0,49 điểm phần trăm.
Xét về cơ cấu kinh tế, công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất với 55,58%; dịch vụ chiếm 26,86%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 11,73%; thuế sản phẩm chiếm 5,83%.
Riêng lĩnh vực công nghiệp, giá trị sản xuất 9 tháng ước đạt 422.766 tỷ đồng, tăng 14,87% so với cùng kỳ; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,7%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu.
Nhằm tạo nền tảng cho phát triển công nghiệp trong giai đoạn tiếp theo, tỉnh đã tham mưu ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 20/7/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Cùng với đó, tỉnh tập trung hoàn thiện Đề án thành lập Khu kinh tế tự do theo ý kiến chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh; đẩy mạnh quy hoạch phân khu trong Khu kinh tế, triển khai các dự án hạ tầng khu, cụm công nghiệp.
Trong 9 tháng, Hưng Yên đã thành lập mới 3 khu công nghiệp gồm Tân Dân, Số 08 và Số 10; thành lập mới 4 cụm công nghiệp gồm Hải Triều, Việt Bắc, Đô Lương và Đông Đô; đồng thời điều chỉnh nội dung quyết định thành lập 25 cụm công nghiệp.
Công tác giải phóng mặt bằng được tỉnh chú trọng nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo điều kiện thu hút đầu tư. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đã đạt trên 1.000 ha, tạo quỹ đất sạch phục vụ thu hút đầu tư và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án.
Trong lĩnh vực xây dựng và phát triển đô thị, tỉnh đã hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; tập trung triển khai quy hoạch chung đô thị và quy hoạch cấp xã. Hưng Yên cũng được công nhận phân loại là đơn vị hành chính cấp tỉnh loại I.
Đối với hệ thống kết cấu hạ tầng, nhiều công trình, dự án trọng điểm, quan trọng mang tính động lực và các dự án dự kiến khởi công mới trong dịp Quốc khánh 2/9, trong năm 2026 được đẩy nhanh tiến độ. Tỉnh tập trung triển khai các giải pháp hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược, các tuyến đường xương sống và kết nối liên vùng, đặc biệt là những dự án giao thông đã có chủ trương, thống nhất phương án thiết kế, hướng tuyến.
Các dự án, công trình chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài cũng được tập trung xử lý. Tính đến ngày 15/9/2026, tỉnh đã xử lý dứt điểm 166/569 dự án tồn đọng.

Giải ngân hơn 28.330 tỷ đồng, xuất nhập khẩu tăng gần 30%
Công tác quản lý đầu tư công được tỉnh đặc biệt quan tâm, với việc tăng cường chỉ đạo giải ngân vốn theo tuần, theo tháng và thành lập các tổ công tác nhằm tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.
Lãnh đạo UBND tỉnh cùng các sở, ban, ngành và đơn vị liên quan thường xuyên kiểm tra thực địa tại các dự án trọng điểm, dự án quan trọng và dự án có kế hoạch vốn lớn để nắm bắt tình hình, kịp thời xử lý những vướng mắc, đồng hành cùng chủ đầu tư trong quá trình thực hiện và giải ngân vốn.
Tính đến ngày 30/9/2026, tổng vốn đầu tư công giải ngân trên địa bàn tỉnh đạt 28.330,4 tỷ đồng, đưa Hưng Yên vào nhóm 4 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về số vốn giải ngân.
Trong đó, nguồn vốn kế hoạch được giao trong năm giải ngân 26.222,7 tỷ đồng, đạt 60,3% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao và đạt 63,5% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao sau khi tiết kiệm 5% ngân sách địa phương.
Đối với nguồn vốn kế hoạch năm trước được phép kéo dài thời hạn giải ngân từ năm 2025 sang năm 2026, tỉnh đã giải ngân 2.107,7 tỷ đồng trong tổng số 6.956,2 tỷ đồng, đạt 30,3%.
Ở lĩnh vực thương mại, dịch vụ, hoạt động lưu thông hàng hóa trên địa bàn tiếp tục ổn định, nguồn cung phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân được bảo đảm. Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, nhất là đối với các mặt hàng thiết yếu và xăng dầu, được tăng cường.
Các hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến công, khuyến thương và thúc đẩy tiêu dùng được tổ chức linh hoạt, hiệu quả. Đáng chú ý, tỉnh đã tổ chức thành công Lễ hội và Xúc tiến thương mại nhãn lồng Hưng Yên năm 2026, đồng thời đón nhận Chứng nhận Tri thức trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể.
Giá trị sản xuất dịch vụ 9 tháng ước đạt 89.770 tỷ đồng, tăng 9,26%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 223.151 tỷ đồng, tăng 17,5% so với cùng kỳ.
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 9 tháng ước đạt 22.064 tỷ đồng, tăng 17,14%. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách tăng 13,47%, doanh thu vận tải hàng hóa tăng 18,78% so với cùng kỳ.
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026 đạt 19,70 tỷ USD, tăng 29,61% so với cùng kỳ. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 10 tỷ USD, tăng 16,69%; kim ngạch nhập khẩu đạt 9,7 tỷ USD, tăng 46,43%.
Những kết quả trên cho thấy công nghiệp, xây dựng, thương mại và xuất nhập khẩu tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của Hưng Yên. Cùng với việc đẩy mạnh phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, tỉnh đang tập trung khơi thông các nguồn lực, thực hiện mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước trong giai đoạn 2026-2030.