Doanh nhân & Công lý | Đồng hành cùng doanh nhân, doanh nghiệp Việt Tài chính doanh nghiệp

Nguyên tắc thực hiện cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài

Nguyên tắc thực hiện cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài

Vũ Đậu

Ngân hàng Nhà nước quy định rõ các nguyên tắc thực hiện cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài, trong đó nhấn mạnh quyền tự chủ gắn với trách nhiệm chịu rủi ro của bên cho vay, cùng yêu cầu tuân thủ nghiêm các quy định về quản lý ngoại hối và hoạt động cấp tín dụng.

Một người đang đếm những cọc tiền ngoại tệ. Hình ảnh dùng minh họa cho các nội dung tài chính, ngân hàng.
Bên cho vay có quyền tự chủ trong việc cho vay ra nước ngoài, tự chịu rủi ro về pháp lý, tài chính trong việc ký kết và thực hiện thỏa thuận cho vay ra nước ngoài. Ảnh minh họa.

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động cho vay ra nước ngoài, ngày 31/12/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 79/2025/TT-NHNN, hướng dẫn việc quản lý ngoại hối trong cho vay và thu hồi nợ nước ngoài của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong đó:

Điều 4. Quy định về quản lý ngoại hối khi mua, bán khoản cho vay ra nước ngoài, khoản thu hồi nợ nước ngoài

Trường hợp khoản cho vay ra nước ngoài, khoản thu hồi nợ nước ngoài được mua, bán theo quy định của pháp luật với 01 tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác thì tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ liên quan đến khoản cho vay ra nước ngoài, khoản thu hồi nợ nước ngoài tiếp tục thực hiện trách nhiệm của bên cho vay, bên thu hồi nợ theo quy định tại Thông tư này.

Trường hợp khoản cho vay ra nước ngoài, khoản thu hồi nợ nước ngoài được mua, bán theo quy định của pháp luật cho từ 02 tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác trở lên:

a) Các tổ chức cùng kế thừa quyền và nghĩa vụ có thể ủy quyền hoặc chỉ định bằng văn bản cho một tổ chức thực hiện trách nhiệm của bên cho vay, bên thu hồi nợ theo quy định tại Thông tư này;

b) Trường hợp không thực hiện việc ủy quyền theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, mỗi tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của bên cho vay, bên thu hồi nợ theo quy định tại Thông tư này đối với phần kế thừa từ khoản cho vay ra nước ngoài, khoản thu hồi nợ nước ngoài.

Điều 5. Nguyên tắc thực hiện cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài

Bên cho vay có quyền tự chủ trong việc cho vay ra nước ngoài, tự chịu rủi ro về pháp lý, tài chính trong việc ký kết và thực hiện thỏa thuận cho vay ra nước ngoài. Khi thực hiện cho vay ra nước ngoài, bên cho vay phải tuân thủ các nội dung quy định tại Thông tư này, các quy định của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Bên thu hồi nợ không phải đăng ký các khoản thu hồi nợ nước ngoài. Trong quá trình thu hồi nợ nước ngoài, bên thu hồi nợ phải tuân thủ các quy định tại Thông tư này, quy định của Ngân hàng Nhà nước về các nghiệp vụ: thanh toán, thu tín dụng, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 6. Các hình thức thu hồi nợ nước ngoài

Việc thu hồi nợ nước ngoài của bên cho vay, bên thu hồi nợ được thực hiện thông qua các hình thức sau:

Thu hồi nợ trực tiếp từ bên có nghĩa vụ trả nợ chuyển khoản cho bên cho vay, bên thu hồi nợ theo quy định của pháp luật có liên quan và thỏa thuận của các bên.

Thu hồi nợ của khoản cho vay ra nước ngoài từ bên thứ ba là người không cư trú chuyển khoản cho bên cho vay, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

Việc thu hồi nợ từ bên thứ ba là người không cư trú phải được quy định rõ trong thỏa thuận cho vay hoặc thỏa thuận cho vay thay đổi và được xác nhận tại văn bản xác nhận đăng ký, đăng ký thay đổi khoản cho vay ra nước ngoài (nếu khoản cho vay ra nước ngoài thuộc đối tượng phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước).

Thu hồi nợ thông qua việc xử lý tài sản bảo đảm.

Thu hồi nợ thông qua việc bên bảo lãnh trả thay cho bên có nghĩa vụ trả nợ. Bên bảo lãnh là người cư trú phải tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối khi thực hiện bảo lãnh cho người không cư trú.

biểu tượng đồng đô la ($) nổi bật giữa các số liệu tài chính. Hình dùng minh họa cho các tin bài nội dung liên quan lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
Các nguyên tắc về cho vay và thu hồi nợ nước ngoài được đặt ra nhằm kiểm soát rủi ro, bảo đảm dòng tiền đúng mục đích và phù hợp với quy định quản lý ngoại hối hiện hành. Ảnh minh họa.

Điều 7. Tài khoản cho vay, thu hồi nợ nước ngoài

Bên cho vay, bên thu hồi nợ là ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi thực hiện cho vay ra nước ngoài, thu hồi nợ nước ngoài không bắt buộc phải mở tài khoản cho vay, thu hồi nợ nước ngoài tại một ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản tại Việt Nam nhưng phải bảo đảm theo dõi đầy đủ giao dịch giải ngân cho vay, thu hồi nợ nước ngoài (gốc, lãi và các loại phí) của từng khoản cho vay ra nước ngoài, thu hồi nợ nước ngoài.

Bên cho vay, bên thu hồi nợ không phải là ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản tại Việt Nam để thực hiện giải ngân cho vay, thu hồi nợ nước ngoài (gốc, lãi và các loại phí) theo nguyên tắc sau:

a) Mỗi khoản cho vay ra nước ngoài, thu hồi nợ nước ngoài chỉ được thực hiện thông qua 01 (một) ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản;

b) Trường hợp đồng tiền thu hồi nợ khác với đồng tiền giải ngân, bên cho vay, bên thu hồi nợ có thể mở và sử dụng tài khoản cho vay, thu hồi nợ nước ngoài khác nếu bảo đảm nguyên tắc quy định tại điểm a khoản này;

c) Bên cho vay, bên thu hồi nợ có trách nhiệm ghi rõ và đề nghị bên có nghĩa vụ trả nợ, các bên liên quan ghi rõ mục đích chuyển tiền liên quan đến khoản cho vay, khoản thu hồi nợ (trong đó ghi rõ khoản thu hồi nợ phát sinh từ nghiệp vụ bảo lãnh, bao thanh toán, thu tín dụng hoặc các nghiệp vụ cấp tín dụng khác).

Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản tại Việt Nam nơi bên cho vay, bên thu hồi nợ mở tài khoản thanh toán để giải ngân, thu hồi nợ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có trách nhiệm thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu các tài liệu do bên cho vay, bên thu hồi nợ xuất trình theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm báo cáo về tình hình thực hiện cho vay, thu hồi nợ của bên cho vay, bên thu hồi nợ.

Trường hợp thay đổi ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản:

a) Bên cho vay, bên thu hồi nợ mở tài khoản thanh toán cho mục đích cho vay, thu hồi nợ nước ngoài tại ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản khác và yêu cầu ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản hiện tại xác nhận tình hình giải ngân, thu hồi nợ nước ngoài (gốc, lãi và phí) liên quan đến khoản cho vay ra nước ngoài, khoản thu hồi nợ nước ngoài;

b) Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản mới chỉ tiếp tục cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản cho vay, thu hồi nợ nước ngoài sau khi nhận được văn bản của Ngân hàng Nhà nước về việc xác nhận đăng ký thay đổi ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản (nếu khoản cho vay thuộc đối tượng phải đăng ký) và xác nhận của ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản ban đầu.

Việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài để thực hiện khoản cho vay ra nước ngoài, thu hồi nợ nước ngoài được thực hiện theo quy định hiện hành về mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Cũng theo Thông tư số 79, bên cho vay, bên thu hồi nợ nước ngoài và ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản thực hiện chế độ báo cáo theo quy định, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

TIN MỚI