Doanh nhân & Công lý | Đồng hành cùng doanh nhân, doanh nghiệp Việt Thị trường - Tiêu dùng

Nông sản xuất khẩu 3/11: Cà phê tăng trên sàn, gạo thơm giữ giá cao

Nông sản xuất khẩu 3/11: Cà phê tăng trên sàn, gạo thơm giữ giá cao

Bạch Dương

Giá cà phê thế giới đồng loạt tăng trong phiên giao dịch đầu tuần, trong khi gạo thơm Việt Nam tiếp tục được chào bán trên 500 USD/tấn. Hồ tiêu xuất khẩu giữ giá ổn định, còn thị trường trong nước chịu sức ép từ nguồn cung và hoạt động thu mua.

Giá cà phê thế giới đồng loạt tăng trong phiên giao dịch đầu tuần, trong khi gạo thơm Việt Nam tiếp tục được chào bán trên 500 USD/tấn. Ảnh minh họa được tạo với sự hỗ trợ của AI.
Giá cà phê thế giới đồng loạt tăng trong phiên giao dịch đầu tuần, trong khi gạo thơm Việt Nam tiếp tục được chào bán trên 500 USD/tấn. Ảnh minh họa được tạo với sự hỗ trợ của AI.

Cà phê thế giới tăng giá, thị trường trong nước tiếp tục giảm

Thị trường cà phê thế giới khởi sắc trong phiên giao dịch ngày 2/11, kết thúc vào rạng sáng 3/11 theo giờ Việt Nam. Cả hai dòng cà phê Robusta và Arabica đều tăng giá trên các sàn kỳ hạn quốc tế.

Trên sàn London, cà phê Robusta kỳ hạn tháng 1/2027 tăng 37 USD, lên 3.241 USD/tấn, tương đương 1,15%. Hợp đồng giao tháng 3/2027 tăng 34 USD, đạt 3.227 USD/tấn.

Tại New York, giá Arabica kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 6,95 cent, lên 294,15 cent/pound, tương đương 2,42%. Hợp đồng giao tháng 3/2027 tăng 5,5 cent, đạt 282,30 cent/pound.

Trái với diễn biến trên các sàn quốc tế, giá cà phê tại Tây Nguyên tiếp tục chịu sức ép khi hoạt động thu hoạch vụ mới gia tăng.

Sáng 3/11, giá cà phê tại các vùng sản xuất trọng điểm dao động từ 85.200 - 86.000 đồng/kg, giảm khoảng 1.000 - 1.500 đồng/kg so với phiên trước.

Đắk Lắk ghi nhận mức 86.000 đồng/kg, Gia Lai 85.700 đồng/kg. Tại Lâm Đồng, giá thu mua phổ biến 85.200 đồng/kg, thấp nhất trong các khu vực được khảo sát.

Sự trái chiều giữa giá kỳ hạn quốc tế và giá thu mua trong nước phản ánh khác biệt về cung cầu tại từng thị trường. Trong khi giá trên các sàn giao dịch chịu tác động từ kỳ vọng nguồn cung và nhu cầu thế giới, thị trường nội địa còn phụ thuộc vào tiến độ thu hoạch, lượng hàng bán ra và nhu cầu mua của doanh nghiệp.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 10 tháng năm 2026, lượng cà phê xuất khẩu tăng 18,1% so với cùng kỳ, nhưng kim ngạch giảm 5,4%. Giá xuất khẩu bình quân giảm 19,9%.

Điều này cho thấy sản lượng xuất khẩu tăng chưa đủ bù đắp mức giảm của giá bán, khiến doanh thu toàn ngành chịu ảnh hưởng.

Gạo thơm duy trì trên 500 USD/tấn

Thị trường gạo xuất khẩu Việt Nam tiếp tục duy trì mặt bằng giá cao ở nhóm gạo thơm và gạo chất lượng cao sau đợt tăng mạnh vào cuối tháng 10.

Theo dữ liệu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 500 - 515 USD/tấn. Gạo Jasmine đạt 535 - 539 USD/tấn, thuộc nhóm có giá chào cao trong các chủng loại gạo xuất khẩu của Việt Nam.

Ở phân khúc gạo trắng, loại 5% tấm được chào bán khoảng 425 - 429 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm duy trì mức 390 - 394 USD/tấn.

So với đầu tháng 10, giá gạo thơm 5% tấm đã tăng đáng kể. Thời điểm đầu tháng, mặt hàng này chỉ dao động 440 - 445 USD/tấn, trước khi tăng lên 470 - 475 USD/tấn vào ngày 22/10 và vượt mốc 500 USD/tấn cuối tháng.

Gạo Jasmine cũng tăng từ mức 515 - 519 USD/tấn lên 535 - 539 USD/tấn trong cùng giai đoạn.

Diễn biến này cho thấy giá chào bán ở phân khúc gạo thơm được cải thiện. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu gạo nói chung vẫn chịu áp lực.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 10 tháng năm 2026, xuất khẩu gạo giảm 5,7% về lượng và 10,8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Mức giảm kim ngạch lớn hơn mức giảm sản lượng phản ánh sức ép về giá xuất khẩu trong phần lớn thời gian qua. Vì vậy, đợt tăng giá gạo thơm cuối tháng 10 chưa đủ để thay đổi kết quả xuất khẩu lũy kế của toàn ngành.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, diễn biến giá của từng phân khúc gạo cần được theo dõi cùng với nhu cầu nhập khẩu và tiến độ thực hiện hợp đồng, nhất là trong giai đoạn cuối năm.

Hồ tiêu xuất khẩu giữ giá, kim ngạch tiến gần mức cả năm 2025

Thị trường hồ tiêu xuất khẩu tiếp tục ổn định trong phiên đầu tháng 11, dù giá thu mua trong nước đã giảm qua nhiều phiên.

Theo Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam duy trì mức 8.450 USD/tấn.

Tại các quốc gia sản xuất lớn, tiêu đen Indonesia được niêm yết khoảng 6.800 USD/tấn, tiêu đen Brazil 5.700 USD/tấn và tiêu đen Malaysia 9.100 USD/tấn.

Ở thị trường trong nước, giá hồ tiêu sáng 3/11 dao động 134.000 - 136.500 đồng/kg. Đắk Lắk giữ mức cao nhất 136.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai và khu vực Bình Phước thuộc tỉnh Đồng Nai phổ biến 134.000 đồng/kg.

Hoạt động xuất khẩu hồ tiêu vẫn ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Theo số liệu Cục Hải quan, từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, Việt Nam xuất khẩu 228.589 tấn hồ tiêu, thu về khoảng 1,5 tỷ USD.

So với cùng kỳ năm trước, lượng xuất khẩu tăng 16,7%, kim ngạch tăng 12,2%.

Với kết quả này, doanh thu xuất khẩu hồ tiêu đã tiến gần mức 1,66 tỷ USD của cả năm 2025. Khả năng vượt kết quả năm trước phụ thuộc vào lượng hàng giao dịch và giá xuất khẩu trong những tháng còn lại.

THỊ TRƯỜNG & GIÁ CẢ | 03/11/2026
Bảng giá nông sản xuất khẩu
Gạo, cà phê, hồ tiêu và các chỉ số xuất khẩu
Gạo xuất khẩu Việt Nam
Chủng loại Giá (USD/tấn) Xu hướng
Gạo thơm 5% tấm 500 - 515 Ổn định
Gạo Jasmine 535 - 539 Ổn định
Gạo trắng 5% tấm 425 - 429 Ổn định
Gạo thơm 100% tấm 390 - 394 Ổn định
Giá chào xuất khẩu tham khảo ngày 02/11/2026. Nguồn: Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA).
Cà phê trên các sàn quốc tế
Hợp đồng kỳ hạn Giá Thay đổi
Robusta London - 01/2027 3.241 USD/tấn +37 USD
Robusta London - 03/2027 3.227 USD/tấn +34 USD
Arabica New York - 12/2026 294,15 cent/lb +6,95 cent
Arabica New York - 03/2027 282,30 cent/lb +5,50 cent
Giá hợp đồng tương lai chốt phiên 02/11, tương ứng rạng sáng 03/11 giờ Việt Nam. Đây không phải giá giao hàng xuất khẩu.
Hồ tiêu xuất khẩu quốc tế
Thị trường và chủng loại USD/tấn
Việt Nam - Tiêu đen 500 g/l 5.950
Việt Nam - Tiêu đen 550 g/l 5.995
Việt Nam - Tiêu trắng ASTA 8.450
Indonesia - Tiêu đen 6.800
Brazil - Tiêu đen ASTA 570 5.700
Malaysia - Tiêu đen ASTA 9.100
Giá tham khảo theo Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), bảng công bố ngày 30/10/2026.
Kết quả xuất khẩu các ngành hàng
Chỉ tiêu Kỳ thống kê Kết quả Cùng kỳ
Nông, lâm, thủy sản 10 tháng 62,891 tỷ USD +7,8%
Rau quả 10 tháng >8,27 tỷ USD +17,2%
Hạt điều - kim ngạch 9 tháng 3,84 tỷ USD +1,9%
Hạt điều - sản lượng 9 tháng 542.768 tấn -2,2%
Số liệu lũy kế năm 2026, so với cùng kỳ 2025. Dữ liệu ngành điều theo kỳ 9 tháng.
Dữ liệu: VFA, IPC, thị trường kỳ hạn London và New York, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Hiệp hội Điều Việt Nam. Các mức giá mang tính tham khảo, phụ thuộc chủng loại, chất lượng và điều kiện giao dịch.

Rau quả vượt 8,27 tỷ USD, hạt điều tăng giá trị xuất khẩu

Bên cạnh cà phê, gạo và hồ tiêu, rau quả tiếp tục là ngành hàng có tốc độ tăng trưởng cao trong xuất khẩu nông nghiệp Việt Nam.

Theo số liệu sơ bộ, kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 10 tháng năm 2026 đạt hơn 8,27 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất. Trong 9 tháng đầu năm, xuất khẩu rau quả sang thị trường này đạt khoảng 4,72 tỷ USD, chiếm hơn 64,8% tổng kim ngạch toàn ngành rau quả.

Cùng với Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản và Hà Lan là những thị trường nhập khẩu quan trọng của rau quả Việt Nam.

Đối với hạt điều, số liệu của Hiệp hội Điều Việt Nam cho thấy, trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu đạt 542.768 tấn, tương đương 3,84 tỷ USD.

So với cùng kỳ, sản lượng giảm 2,2% nhưng kim ngạch tăng 1,9%. Kết quả này cho thấy giá trị xuất khẩu bình quân của hạt điều đã cải thiện, dù lượng hàng bán ra giảm.

Tính chung toàn ngành nông, lâm, thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ước tính kim ngạch xuất khẩu 10 tháng năm 2026 đạt 62,891 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Xuất siêu đạt khoảng 18,6 tỷ USD.

Bước sang tháng 11, diễn biến giá giữa các ngành hàng tiếp tục khác biệt. Cà phê phục hồi trên thị trường kỳ hạn nhưng giá thu mua trong nước vẫn giảm; gạo thơm giữ mức chào bán cao; hồ tiêu ổn định, còn rau quả duy trì tăng trưởng về kim ngạch.

Trong những tháng cuối năm, khả năng tiêu thụ hàng hóa, chi phí sản xuất và giá xuất khẩu sẽ tiếp tục ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng như thu nhập của người sản xuất.

TIN MỚI