Doanh nhân & Công lý | Đồng hành cùng doanh nhân, doanh nghiệp Việt Thị trường - Tiêu dùng

Nông sản xuất khẩu 4/9: Rau quả vượt cà phê, cán mốc 6,02 tỷ USD

Nông sản xuất khẩu 4/9: Rau quả vượt cà phê, cán mốc 6,02 tỷ USD

Bạch Dương

Xuất khẩu nông sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận sự phân hóa rõ trong 8 tháng năm 2026. Rau quả vươn lên dẫn đầu với kim ngạch 6,02 tỷ USD, nhỉnh hơn cà phê ở mức 6 tỷ USD. Trong khi hạt điều và hồ tiêu duy trì tăng trưởng về giá trị, gạo và cao su vẫn chịu sức ép giảm so với cùng kỳ.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2026 ước đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Riêng nhóm nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%.

Xuất khẩu nông sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận sự phân hóa rõ trong 8 tháng năm 2026. Ảnh được tạo với sự hỗ trợ của AI.
Xuất khẩu nông sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận sự phân hóa rõ trong 8 tháng năm 2026. Ảnh được tạo với sự hỗ trợ của AI.

Rau quả vượt cà phê

Rau quả là nhóm hàng nổi bật nhất trong 8 tháng đầu năm. Riêng tháng 8, kim ngạch xuất khẩu rau quả ước đạt 1,24 tỷ USD, đưa tổng giá trị từ đầu năm lên 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 58,9% tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Hoa Kỳ đứng thứ hai với 7,6%, tiếp đến là Hàn Quốc với 4,2%.

Cà phê đứng ngay sau rau quả với khoảng 1,3 triệu tấn được xuất khẩu trong 8 tháng, trị giá 6 tỷ USD. Khối lượng tăng 13,1% nhưng giá trị giảm 9,1% so với cùng kỳ.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân đạt khoảng 4.538 USD/tấn, giảm 19,7%. Đức, Italy và Nhật Bản là ba thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong nhóm số liệu được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố.

Mặt hàng Khối lượng Kim ngạch Lượng Giá trị Thị trường nổi bật
Rau quả - 6,02 tỷ USD - +24,9% Trung Quốc: 58,9%
Cà phê 1,3 triệu tấn 6,00 tỷ USD +13,1% -9,1% Đức, Italy, Nhật Bản
Hạt điều 474.000 tấn 3,35 tỷ USD -1,7% +2,0% Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hà Lan
Gạo 6 triệu tấn 2,86 tỷ USD -6,3% -11,9% Philippines: 43,2%
Cao su 936.100 tấn 1,86 tỷ USD -16,1% -6,2% Trung Quốc
Hồ tiêu 190.100 tấn 1,24 tỷ USD +14,5% +9,6% Hoa Kỳ: 27,2%
Số liệu: 8 tháng năm 2026. Dấu “-” thể hiện số liệu không nêu trong bộ thống kê sử dụng cho bảng.

Điều, tiêu tăng giá trị; gạo và cao su giảm

Hạt điều tiếp tục nằm trong nhóm nông sản xuất khẩu tỷ USD. Lũy kế 8 tháng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 474.000 tấn điều, trị giá 3,35 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, lượng xuất khẩu giảm 1,7% nhưng giá trị vẫn tăng khoảng 2%.

Hồ tiêu đạt khoảng 190.100 tấn, kim ngạch 1,24 tỷ USD, tăng 14,5% về lượng và 9,6% về giá trị. Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ hồ tiêu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 27,2% thị phần.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu gạo đạt khoảng 6 triệu tấn, trị giá 2,86 tỷ USD, giảm 6,3% về lượng và 11,9% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 480,9 USD/tấn, giảm 6% so với cùng kỳ.

Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm 43,2% tổng giá trị xuất khẩu.

Cao su cũng ghi nhận lượng và giá trị xuất khẩu cùng giảm. Trong 8 tháng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 936.100 tấn cao su, trị giá 1,86 tỷ USD, giảm lần lượt 16,1% và 6,2%. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân đạt 1.986 USD/tấn, tăng 11,9%.

Mặt hàng Quy cách/kỳ hạn Giá Biến động
Gạo Việt Nam Jasmine 534-538 USD/tấn Ổn định
Gạo Việt Nam Thơm 5% tấm 470-480 USD/tấn Ổn định
Gạo Việt Nam Trắng 5% tấm 438-442 USD/tấn Ổn định
Hồ tiêu Tiêu đen 500 g/l 5.990 USD/tấn Ổn định
Hồ tiêu Tiêu đen 550 g/l 6.050 USD/tấn Ổn định
Hồ tiêu Tiêu trắng 8.400 USD/tấn Ổn định
Robusta London Tháng 9/2026 3.298 USD/tấn -27 USD
Robusta London Tháng 11/2026 3.374 USD/tấn -32 USD
Arabica New York Tháng 9/2026 324,35 US cent/pound -4,05 cent
Arabica New York Tháng 12/2026 295,35 US cent/pound -2,75 cent
Gạo và hồ tiêu: Giá tham chiếu sáng 4/9/2026. Cà phê: Giá chốt phiên giao dịch ngày 3/9/2026.

Giá gạo, hồ tiêu ổn định; cà phê tiếp tục giảm

Trên thị trường xuất khẩu sáng 4/9, giá gạo Việt Nam nhìn chung ổn định. Gạo Jasmine được chào ở mức 534-538 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm ở mức 470-480 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm dao động 438-442 USD/tấn.

Giá hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam cũng chưa ghi nhận biến động mới. Tiêu đen loại 500 g/l được giao dịch ở mức 5.990 USD/tấn, loại 550 g/l ở mức 6.050 USD/tấn; tiêu trắng khoảng 8.400 USD/tấn.

Trong khi đó, cà phê trên hai sàn quốc tế tiếp tục giảm. Chốt phiên 3/9, Robusta London kỳ hạn tháng 9/2026 giảm 27 USD, xuống 3.298 USD/tấn; kỳ hạn tháng 11 giảm 32 USD, còn 3.374 USD/tấn.

Trên sàn New York, Arabica kỳ hạn tháng 9 giảm 4,05 US cent xuống 324,35 US cent/pound; kỳ hạn tháng 12 giảm 2,75 US cent, còn 295,35 US cent/pound.

Nhìn chung, bức tranh xuất khẩu nông sản 8 tháng cho thấy sự dịch chuyển rõ giữa các nhóm hàng. Rau quả đang nổi lên với tốc độ tăng trưởng mạnh, trong khi cà phê tăng lượng nhưng giảm kim ngạch do giá xuất khẩu thấp hơn cùng kỳ. Gạo và cao su tiếp tục chịu sức ép, còn hồ tiêu và hạt điều vẫn duy trì mức tăng về giá trị.

TIN MỚI