Quản lý an toàn hàng không: Lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm
Nghị định 221/2026/NĐ-CP quy định cụ thể chương trình giám sát an toàn hàng không, trách nhiệm của Nhà chức trách hàng không Việt Nam và yêu cầu xây dựng văn hóa an toàn trong toàn hệ thống hàng không dân dụng.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 221/2026/NĐ-CP quy định về Nhà chức trách hàng không Việt Nam và quản lý an toàn hàng không. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

Theo Nghị định, quản lý an toàn hàng không bao gồm các nội dung: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động giám sát an toàn hàng không; xây dựng chương trình, tài liệu hướng dẫn giám sát; Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam; yêu cầu về hệ thống quản lý an toàn; hệ thống thu thập, đánh giá, xử lý dữ liệu an toàn hàng không; Trung tâm dữ liệu an toàn hàng không; mức độ không tuân thủ và biện pháp khắc phục đối với tổ chức, cá nhân.
Nghị định cũng quy định về miễn trừ; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong xây dựng, thúc đẩy văn hóa an toàn hàng không; báo cáo sự cố an toàn hàng không bắt buộc và tiêu chuẩn đối với giám sát viên an toàn hàng không.
Giám sát độc lập, khách quan, ưu tiên lĩnh vực rủi ro cao
Theo Nghị định, hoạt động giám sát an toàn hàng không phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời phù hợp với tiêu chuẩn, hướng dẫn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO).
Việc giám sát phải bảo đảm tính độc lập, khách quan, công khai, minh bạch, có hệ thống và liên tục. Công tác này được thực hiện thông qua chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt hoặc giám sát đột xuất.
Đáng chú ý, Nghị định yêu cầu ưu tiên nguồn lực giám sát đối với các lĩnh vực, đối tượng có nguy cơ rủi ro cao, uy hiếp an toàn hàng không. Đây là nguyên tắc giám sát dựa trên rủi ro, nhằm tập trung kiểm soát các nguy cơ có khả năng tác động trực tiếp đến an toàn bay.
Quá trình giám sát phải tuân thủ quy trình, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ do Nhà chức trách hàng không Việt Nam ban hành, bảo đảm thống nhất trong đánh giá, kết luận và xử lý các vấn đề an toàn. Hoạt động giám sát phải do giám sát viên an toàn hàng không đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực, chuyên môn, kinh nghiệm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng thực hiện.
Rà soát chương trình giám sát hằng năm
Nhà chức trách hàng không Việt Nam có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình giám sát an toàn hàng không hằng năm đối với các lĩnh vực: tàu bay, khai thác tàu bay; bảo đảm hoạt động bay; cảng hàng không, bãi cất, hạ cánh và các lĩnh vực khác theo quy định.
Chương trình giám sát phải xác định cụ thể đối tượng, phạm vi, nội dung, hình thức và tần suất giám sát định kỳ đối với từng lĩnh vực chuyên ngành. Việc xây dựng chương trình phải dựa trên kết quả đánh giá hồ sơ rủi ro an toàn, kết quả giám sát của các kỳ trước; đồng thời phù hợp với quy mô, phạm vi hoạt động và năng lực quản lý an toàn của đối tượng được kiểm tra, giám sát.
Chương trình giám sát an toàn hàng không và hệ thống tài liệu hướng dẫn giám sát phải được rà soát, đánh giá định kỳ hằng năm hoặc khi cần thiết, nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn, quy mô công tác bảo đảm an toàn hàng không, quy định pháp luật Việt Nam và tiêu chuẩn, hướng dẫn của ICAO.
Hoàn thiện Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam
Nghị định quy định Nhà chức trách hàng không Việt Nam có trách nhiệm xây dựng, tổ chức thực hiện, duy trì, rà soát và cập nhật Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Chương trình này phải phù hợp với pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tiêu chuẩn, khuyến cáo của ICAO; đồng thời Nhà chức trách hàng không Việt Nam thực hiện kiểm tra, giám sát việc triển khai chương trình.
Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam gồm 4 nhóm nội dung chính: chính sách, mục tiêu và nguồn lực bảo đảm an toàn hàng không; quản lý rủi ro an toàn hàng không; bảo đảm an toàn hàng không; thúc đẩy an toàn hàng không.
Trong đó, nhóm chính sách, mục tiêu và nguồn lực tập trung vào việc ban hành, duy trì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, công cụ quản lý và thông tin thiết yếu phục vụ công tác quản lý, giám sát an toàn hàng không.
Nghị định cũng yêu cầu thiết lập hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp trong quản lý, giám sát an toàn hàng không; ban hành, duy trì chính sách và mục tiêu an toàn hàng không; bảo đảm vai trò của Nhà chức trách hàng không Việt Nam trong công tác ứng phó khẩn nguy, quản lý khủng hoảng ở cấp Nhà nước.
Nhận diện mối nguy, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro
Về quản lý rủi ro an toàn hàng không, Nghị định quy định thực hiện cấp phép, cấp giấy chứng nhận, phê chuẩn, chấp thuận, cho phép đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hàng không dân dụng theo quy định pháp luật.
Các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng áp dụng phải triển khai hệ thống quản lý an toàn theo quy định. Đồng thời, thiết lập và duy trì cơ chế, nội dung điều tra tai nạn, sự cố tàu bay dân dụng.
Một nội dung quan trọng là thiết lập, triển khai quy trình nhận diện mối nguy, thu thập, xử lý và phân tích thông tin an toàn nhằm đánh giá rủi ro an toàn hàng không; từ đó áp dụng các biện pháp quản lý, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro phát sinh từ các mối nguy đã được nhận diện.
Đối với công tác bảo đảm an toàn hàng không, Nghị định yêu cầu thực hiện kiểm tra, giám sát an toàn đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hàng không dân dụng; thiết lập và áp dụng các chỉ số thực hiện an toàn, mục tiêu an toàn và cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện mục tiêu an toàn của hệ thống hàng không dân dụng.
Đồng thời, phải thực hiện quản lý sự thay đổi, đánh giá hiệu lực của các biện pháp kiểm soát rủi ro an toàn và rà soát, hoàn thiện Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam.
Nghị định cũng đặt ra yêu cầu tuyên truyền, phổ biến chính sách, mục tiêu và yêu cầu về an toàn hàng không; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; chia sẻ, trao đổi thông tin an toàn nhằm hỗ trợ phòng ngừa, cảnh báo và thúc đẩy văn hóa an toàn trong cộng đồng hàng không dân dụng cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Bên cạnh đó, cơ quan chức năng xây dựng và triển khai chính sách, tiêu chí đánh giá nhằm tôn vinh, khen thưởng hằng năm đối với tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác bảo đảm an toàn hàng không.