Tái định vị doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu thời kỳ hội nhập mới
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vượt 475 tỷ USD năm 2025, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn ba phần tư. Để mở rộng hiện diện ở thị trường quốc tế, doanh nghiệp Việt cần đầu tư vào công nghệ, xây dựng thương hiệu và chọn kênh phân phối phù hợp.

Bệ đỡ tăng trưởng và thách thức từ cấu trúc xuất khẩu
Tại Diễn đàn Xúc tiến xuất khẩu Việt Nam 2026, ông Marco Foerster, đại diện Công ty Tư vấn Chiến lược Stratburg và Diễn đàn Kinh tế Thụy Sĩ – Việt Nam tại Hà Nội, đã đưa ra những phân tích sâu sắc về bức tranh vĩ mô của nền kinh tế. Theo dữ liệu từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), quy mô tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm 2026 ước đạt 542 tỷ USD, bám sát mức 599 tỷ USD của Thái Lan.
Với tốc độ tăng trưởng 8,4% so với mức 2,1% của nước bạn, IMF dự báo Việt Nam có thể vượt qua Thái Lan về quy mô nền kinh tế vào giai đoạn 2028 - 2029. Đồng thời, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2026 ước đạt 5.259 USD, chính thức vượt qua Indonesia. Một thị trường nội địa mở rộng nhanh chóng đang tạo tiềm lực tài chính và quy mô vững chắc hơn cho các kế hoạch vươn ra nước ngoài của cộng đồng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cấu trúc ngoại thương vẫn bộc lộ điểm nghẽn lớn về mức độ tự chủ. Năm 2025, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng góp tới 77% trong tổng kim ngạch xuất khẩu 475 tỷ USD của Việt Nam và nắm giữ đến 98% giá trị xuất khẩu ngành hàng điện tử.
Trong khi xuất khẩu của khối FDI tăng trưởng 26%, kim ngạch của các doanh nghiệp nội địa lại suy giảm 6%. Khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp cả nước nhưng chỉ đóng góp khoảng 7% kim ngạch xuất khẩu. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc khoảng 70% doanh nghiệp chưa tiếp cận được nguồn tín dụng ngân hàng chính thức, hạn chế trong ứng dụng công nghệ hiện đại, thiếu hụt nhân lực am hiểu pháp lý quốc tế và thiếu thông tin thị trường đối tác.
Dấu ấn tiên phong và áp lực mở rộng đầu tư
Mặc dù xuất phát điểm còn khiêm tốn, xu hướng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đã ghi nhận bước tăng tốc rõ nét. Vốn đầu tư ra nước ngoài đăng ký mới và điều chỉnh đã tăng gấp 3,2 lần trong vòng hai năm qua. Riêng quý 1 năm 2026, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài đạt 620 triệu USD, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm 2025. Hành lang pháp lý cũng trở nên thông thoáng hơn khi Luật Đầu tư sửa đổi có hiệu lực từ tháng 3 năm 2026 đã bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án có quy mô dưới 7 tỷ đồng.
Dù vậy, quy mô vốn đầu tư ngoại của Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn so với các quốc gia láng giềng. Năm 2024, tỷ lệ đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam mới chiếm khoảng 0,1% GDP, trong khi tỷ lệ này của Malaysia lên tới 11,8% GDP và Thái Lan là 1,5% GDP. Trước đây, nhiều tập đoàn lớn trong khu vực ASEAN đã nhanh chóng vươn tầm qua các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) trực tiếp tại Việt Nam, tiêu biểu như ThaiBev mua cổ phần chi phối Sabeco với giá 4,8 tỷ USD, Central Group mua chuỗi siêu thị Big C với giá 1,1 tỷ USD, BJC mua lại Metro Việt Nam trị giá 655 triệu euro, hay Jollibee nắm giữ 49% chuỗi Highlands Coffee.
Ở chiều ngược lại, các thương hiệu lớn của Việt Nam hiện nay đang chủ động kiến tạo những vị thế vững chắc tại thị trường quốc tế. Viettel đã vận hành mạng viễn thông tại 10 quốc gia, dẫn đầu thị phần tại 7 thị trường và ghi nhận doanh thu quốc tế năm 2025 đạt 3,34 tỷ USD với mức tăng trưởng 23,9%. Vingroup xuất khẩu trọn vẹn một hệ sinh thái ra thế giới, đưa dịch vụ taxi điện Xanh SM mở rộng tới 9 thị trường quốc tế chỉ trong vòng 3 năm, đồng thời ký kết thỏa thuận phát triển đại đô thị thông minh quy mô 1.080 ha trị giá 3 tỷ USD tại bang Telangana, Ấn Độ.
Đáng chú ý trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo năng lượng mới, Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC M&C) đã chế tạo và xuất khẩu thành công 4 trạm biến áp điện gió ngoài khơi với tổng khối lượng 16.000 tấn từ Vũng Tàu sang Ba Lan, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe hàng đầu châu Âu.
Lộ trình quốc tế hóa từng bước cho doanh nghiệp

Đối với phân khúc doanh nghiệp tiêu dùng và dịch vụ quy mô vừa và nhỏ, mô hình mở rộng từng bước qua nhượng quyền thương mại và liên kết đối tác bản địa đang chứng minh tính hiệu quả cao. Chuỗi Cộng Cà Phê đã phát triển thành công 23 cửa hàng tại Hàn Quốc qua hợp đồng nhượng quyền độc quyền trước khi vươn sang Malaysia và Canada.
Chuỗi Three O’Clock ký kết hợp tác nhượng quyền tại nhiều quốc gia Trung Đông và Ấn Độ, trong khi Viva Star Coffee thâm nhập các thị trường Đông Nam Á và Trung Quốc. Trong mảng công nghệ thông tin, Rikkeisoft khởi đầu từ 5 sáng lập viên đã thiết lập pháp nhân tại Nhật Bản năm 2016, làm bàn đạp mở rộng mạng lưới văn phòng sang Mỹ, Hàn Quốc và Thái Lan.
Theo tư vấn từ ông Marco Foerster, doanh nghiệp cần lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường phù hợp với mức độ rủi ro và năng lực tài chính. Có 5 hình thức tiếp cận từ thấp đến cao, bắt đầu từ xuất khẩu gián tiếp qua các đơn vị thương mại, xuất khẩu trực tiếp kết hợp sàn thương mại điện tử, đặt văn phòng đại diện hoặc chi nhánh, liên doanh cùng đối tác am hiểu văn hóa bản địa, cho tới mức độ cao nhất là thành lập công ty con hoặc thực hiện M&A để làm chủ mạng lưới phân phối.
Quá trình này cần được hoạch định theo ba giai đoạn chiến lược rõ ràng. Năm đầu tiên dành cho việc thử nghiệm nhu cầu bằng các đơn hàng nhỏ qua đối tác phân phối hoặc triển lãm thương mại, chuyển tiếp khi có lượng khách hàng ổn định. Giai đoạn từ năm thứ nhất đến năm thứ ba tập trung thiết lập chỗ đứng bằng việc mở văn phòng đại diện, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, đáp ứng chuẩn mực địa phương và thuê nhân sự sở tại cho đến khi doanh thu tự bù đắp được chi phí.
Từ năm thứ ba trở đi, doanh nghiệp có thể tự tin nhân rộng quy mô, sở hữu nhà kho, nhà máy hoặc biến thị trường mục tiêu thành trung tâm xuất khẩu sang các quốc gia lân cận. Sự đồng hành hỗ trợ kỹ thuật từ các dự án quốc tế như Chương trình Sippo (Thụy Sĩ) sẽ là trợ lực quý báu giúp doanh nghiệp nâng cấp năng lực, kiểm soát rủi ro và tự tin bước vào chuỗi giá trị toàn cầu.