Tech Connect: “Ba nhà xuyên biên giới” và tư duy đồng kiến tạo công nghệ
Từ yêu cầu biến nguồn lực quốc tế thành năng lực nội sinh, mô hình “Ba nhà xuyên biên giới” đang mở ra một cách tiếp cận mới trong hợp tác công nghệ. Doanh nhân & Công lý trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, về tư duy Kết nối Công nghệ (Tech Connect) và đồng kiến tạo năng lực công nghệ cho Việt Nam.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Hiện thực hóa định hướng lớn ấy đòi hỏi phát huy mạnh mẽ nội lực, đồng thời biết biến nguồn lực quốc tế thành năng lực của chính mình. Từ yêu cầu đó, mô hình hợp tác "Ba nhà xuyên biên giới" đang từng bước định hình qua cách tiếp cận Kết nối Công nghệ (Tech Connect), một tư duy đối ngoại hướng từ kết nối nguồn lực tới đồng kiến tạo năng lực công nghệ, phục vụ khát vọng tự cường của đất nước.
Một yêu cầu mới đặt ra
Nghị quyết số 57-NQ/TW đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển, đó là đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm, coi đó là đột phá đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới; đồng thời đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, xây dựng năng lực nội sinh và tự chủ chiến lược trong những lĩnh vực then chốt.
Trong bối cảnh các chuỗi công nghệ ngày càng phân tán, đan xen và phụ thuộc lẫn nhau, tự chủ công nghệ không đồng nghĩa với khép kín; ngay cả những quốc gia có năng lực công nghệ hàng đầu cũng cần tham gia các mạng lưới hợp tác và đổi mới quốc tế. Vấn đề đặt ra không phải là có hợp tác hay không, mà là hợp tác như thế nào để tri thức và nguồn lực bên ngoài dần trở thành năng lực bên trong. Thước đo cuối cùng của hợp tác không chỉ là những gì chúng ta tiếp cận được, mà là những gì Việt Nam có thể hấp thụ, làm chủ và tiếp tục phát triển. Chính ở điểm chuyển hóa ấy, đối ngoại có thể và cần đóng vai trò tiên phong.

“Ba nhà xuyên biên giới”: Từ kết nối đến đồng kiến tạo
Cách tiếp cận Kết nối Công nghệ ra đời từ chính yêu cầu đó. Đây không đơn thuần là việc tổ chức thêm các diễn đàn hay ký kết thêm các thỏa thuận, mà là một cách tiếp cận mới về hợp tác công nghệ, đó là chuyển trọng tâm từ giao dịch, mua bán sang đồng kiến tạo; từ tiếp nhận thụ động sang chủ động cùng thiết kế; và thay vì dừng ở những sự kiện đơn lẻ, hướng tới các cơ chế hợp tác bền vững, có chiều sâu. Đồng kiến tạo đòi hỏi quan hệ hai chiều. Việt Nam không chỉ tiếp nhận tri thức và công nghệ, mà còn có thể đóng góp bằng thị trường quy mô lớn, nguồn nhân lực trẻ, năng lực sản xuất đang lên và những bài toán phát triển thực tiễn có thể trở thành nơi thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ. Đó là cơ sở để hợp tác đi vào chiều sâu và bền vững.
Trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mô hình “ba nhà” gắn kết Nhà nước, giới nghiên cứu và doanh nghiệp trong một chu trình từ chính sách, nghiên cứu đến ứng dụng và thị trường. Điểm mới của cách tiếp cận là đưa logic liên kết “ba nhà”, vốn quen thuộc trong phạm vi một quốc gia, vượt qua biên giới và tổ chức thành một chu trình hợp tác xuyên quốc gia có chủ đích. Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp Việt Nam, thay vì chỉ kết nối với nhau trong nước, còn kết nối với chính phủ, giới nghiên cứu và doanh nghiệp của nước đối tác để cùng nghiên cứu, cùng phát triển và cùng đưa công nghệ vào thực tiễn. Có thể gọi đó là “Ba nhà xuyên biên giới”. Bản chất của mô hình không phải là đặt hai nhóm “ba nhà” cạnh nhau, mà là nối họ vào cùng một chu trình: Từ chính sách đến nghiên cứu và phát triển, từ công nghệ đến ứng dụng và thương mại hóa. Vì thế, “Ba nhà xuyên biên giới” trước hết là một mô hình vận hành, chứ không chỉ là một cách gọi.
Trong hình dung đó, mô hình được triển khai qua nhiều kênh gắn bó với nhau: Các diễn đàn kết nối và đối thoại chính sách mở đường, tạo khuôn khổ; các trung tâm nghiên cứu chung, phòng thí nghiệm liên kết và chương trình đào tạo gắn kết nhà khoa học hai bên; doanh nghiệp cùng phát triển sản phẩm, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Để mô hình thực sự vận hành hiệu quả, những vấn đề như đầu mối điều phối, cơ chế chia sẻ nguồn lực, sở hữu trí tuệ và dữ liệu cần tiếp tục được cụ thể hóa trong quá trình triển khai. Logic liên kết này cũng đã được phản ánh trong Tuyên bố chung Việt Nam - Australia về tăng cường kết nối khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và Tuyên bố chung Việt Nam - Singapore về Chiến lược Kết nối công nghệ. Tinh thần này cũng phù hợp với định hướng của Lãnh đạo Đảng,Nhà nước: Hợp tác công nghệ cần hướng tới hình thành một mô hình mới, trong đó Nhà nước hai bên tạo khuôn khổ và chính sách thuận lợi để các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cùng nghiên cứu, cùng phát triển và cùng sản xuất.
Thách thức lớn của hợp tác công nghệ không phải là ký được bao nhiêu thỏa thuận, mà là sau mỗi thỏa thuận, năng lực nào ở lại với Việt Nam. Nếu hợp tác chỉ dừng ở nhập khẩu thiết bị, tiếp nhận sản phẩm hoàn chỉnh hay chuyển giao một chiều, quy mô hợp tác có thể tăng mà năng lực tự chủ chưa chắc tăng theo. Tự cường công nghệ, vì thế, phải được xây dựng ngay trong quá trình hợp tác: Mở để tiếp cận, hợp tác để học hỏi, đồng kiến tạo để tích lũy năng lực và từng bước tiến tới làm chủ. Năng lực nội sinh là nền tảng; tự chủ chiến lược là khả năng lựa chọn, làm chủ và không rơi vào lệ thuộc.
Từ tầm nhìn đến hành động
Với Australia, hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành một trụ cột của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Tại Diễn đàn Tech Connect Việt Nam - Australia (Đại học Công nghệ Sydney, tháng 8/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh ba chuyển dịch quan trọng: Từ thu hút đầu tư sang hợp tác cùng phát triển; từ tiếp nhận công nghệ sang đồng sáng tạo; và từ tham gia chuỗi giá trị sang vươn lên những vị trí có giá trị gia tăng cao hơn. Trung tâm Công nghệ Chiến lược Việt Nam - Australia bước sang giai đoạn mới, tập trung vào các công nghệ trọng yếu như 5G và đào tạo nhân lực trình độ cao, hướng hợp tác mạnh về nghiên cứu và công nghệ chiến lược.

Với Singapore, từ Diễn đàn Kết nối Công nghệ Việt Nam - Singapore (tháng 5/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị đưa mô hình “Ba Nhà” từ phạm vi một quốc gia tiến tới “Ba Nhà của hai nước”. Nhân dịp đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thăm chính thức Singapore và đồng chủ trì Đối thoại Chiến lược Việt Nam - Singapore lần thứ nhất ngày 24-25/8/2026, hai nước đã ra Tuyên bố chung về Chiến lược Kết nối công nghệ, với tầm nhìn cùng trở nên tự cường hơn về công nghệ thông qua hợp tác và kết nối. Hợp tác tập trung vào sản xuất tiên tiến, bán dẫn và công nghệ lượng tử, gắn với những thiết chế như Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore thế hệ mới (VSIP 2.0).
Hai khuôn khổ Kết nối Công nghệ với Australia và Singapore cho thấy những lát cắt khác nhau của cùng một tư duy: Một bên đặt trọng tâm vào nghiên cứu và công nghệ chiến lược, một bên gắn công nghệ với vốn, doanh nghiệp và thương mại hóa. Cùng với những hướng hợp tác đang mở ra với các đối tác khác, chúng từng bước hình thành một mạng lưới đa dạng, bổ trợ lẫn nhau. Giá trị của Tech Connect do đó không nằm ở từng kết nối riêng lẻ, mà ở khả năng ghép những thế mạnh khác nhau thành năng lực công nghệ của Việt Nam, qua đó đa dạng hóa nguồn tiếp cận và nâng cao khả năng tự chủ tổng thể về công nghệ.

Vai trò tiên phong của đối ngoại
Sự hình thành và triển khai các chương trình Kết nối Công nghệ cho thấy một chuyển biến trong tư duy đối ngoại: Hợp tác quốc tế không dừng ở việc tiếp nhận, mà phải góp phần xây dựng năng lực công nghệ của chính mình. Từ đó, vai trò tiên phong của đối ngoại thể hiện ở ba chức năng gắn bó với nhau.
Một là, mở không gian. Bằng quan hệ chính trị tin cậy ở cấp cao, đối ngoại kiến tạo những khuôn khổ mà tự thân doanh nghiệp hay giới nghiên cứu khó thiết lập được, đưa hợp tác công nghệ thành một nội dung trọng tâm trong quan hệ với các đối tác. Đối ngoại cũng chủ động tham gia định hình các chuẩn mực quốc tế cho những lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu xuyên biên giới hay an ninh mạng, bảo vệ lợi ích và không gian phát triển của đất nước ngay từ khi luật chơi còn đang định hình.
Hai là, kết nối nguồn lực. Ngoại giao công nghệ là một nỗ lực liên ngành, trong đó đối ngoại giữ vai trò kết nối và tạo thuận lợi, gắn kết Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học trong nước với mạng lưới trí thức, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài và nguồn lực của các đối tác quốc tế. Đội ngũ trí thức, chuyên gia gốc Việt tại nhiều trung tâm công nghệ hàng đầu thế giới là một cầu nối tri thức quý giá, gắn công nghệ, kinh nghiệm với mạng lưới hợp tác quốc tế.
Ba là, thúc đẩy chuyển hóa. Một thỏa thuận chỉ thực sự có giá trị khi từ đó hình thành một dự án, một nhóm nghiên cứu, một đội ngũ kỹ sư, một công nghệ được làm chủ hay một sản phẩm đi được ra thị trường. Bởi tiếp cận công nghệ, hấp thụ công nghệ và làm chủ công nghệ là ba nấc hoàn toàn khác nhau, và tự cường chỉ thực sự được củng cố khi năng lực làm chủ được hình thành. Thành công của các chương trình Kết nối Công nghệ, vì vậy, cần được đo trước hết bằng những năng lực được hình thành: Công nghệ nào được hấp thụ và làm chủ, nguồn nhân lực nào được đào tạo, mạng lưới nghiên cứu và phát triển nào được thiết lập, sản phẩm nào được thương mại hóa, và doanh nghiệp Việt Nam tiến được bao xa trong chuỗi giá trị. Đây là công việc bền bỉ, đòi hỏi ngành ngoại giao vừa mở đường, vừa đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và nhà khoa học trong suốt quá trình triển khai.
Đi liền với chủ động hợp tác là yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ: Bảo vệ dữ liệu và chủ quyền dữ liệu, kiểm soát rủi ro trong các lĩnh vực nhạy cảm và bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Xử lý hài hòa giữa mở rộng hợp tác và giữ vững tự chủ là một phần bản lĩnh đối ngoại trong kỷ nguyên số, đồng thời là điều kiện để đất nước được tin cậy tham gia vào những mạng lưới công nghệ có giá trị cao.

Kết nối là phương tiện. Đồng kiến tạo là phương thức. Năng lực nội sinh mới là đích đến.
Thực tiễn Kết nối Công nghệ cho thấy một hướng triển khai cụ thể để đưa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW vào công tác đối ngoại: Không thụ động chờ mà chủ động kiến tạo thời cơ; không dừng ở tìm kiếm mà tạo ra những cơ chế để nguồn lực được hấp thụ, chuyển hóa và nhân lên trong nước.
Trong kỷ nguyên công nghệ, tự cường không có nghĩa là tự mình làm tất cả. Tự cường trước hết là có đủ năng lực để chủ động lựa chọn đối tác, cùng sáng tạo và làm chủ những công nghệ thiết yếu cho sự phát triển của đất nước. Khi đó, hợp tác quốc tế không làm giảm đi tự chủ; ngược lại, nếu được tổ chức đúng, chính hợp tác sẽ bồi đắp năng lực tự chủ. Đó cũng là cách để đối ngoại tiếp tục phát huy vai trò tiên phong: Mở đường cho những nguồn lực mới, kết nối các chủ thể trong và ngoài nước, và quan trọng hơn là chuyển hóa sức mạnh của quan hệ quốc tế thành năng lực nội sinh của quốc gia, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.