Tiêu chí, điều kiện thành lập khu công nghệ số tập trung
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 354/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Công nghiệp công nghệ số liên quan đến khu công nghệ số tập trung, qua đó thiết lập khung pháp lý đầy đủ cho việc quản lý, phát triển và thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp công nghệ số - một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế số Việt Nam.
Theo đó, Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật Công nghiệp công nghệ số về khu công nghệ số tập trung, gồm: Khoản 1 và khoản 3 Điều 22; khoản 3 Điều 23 và khoản 3 Điều 25 của Luật Công nghiệp công nghệ số; quy định biện pháp thi hành Điều 5 và Điều 24 của Luật Công nghiệp công nghệ số về quản lý và phát triển khu công nghệ số tập trung.

Chức năng của khu công nghệ số tập trung
Theo Nghị định, khu công nghệ số tập trung là không gian phát triển tổng hợp, nơi hội tụ các hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, đào tạo và cung ứng hạ tầng phục vụ trực tiếp cho công nghiệp công nghệ số. Các quy định mới tập trung làm rõ tiêu chí xác lập khu công nghệ số tập trung, điều kiện thành lập, cơ cấu quy hoạch phân khu chức năng cũng như các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đi kèm.
Về chức năng, khu công nghệ số tập trung được định hướng là trung tâm nghiên cứu và phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ số; sản xuất, kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ công nghệ số, bao gồm phần mềm, phần cứng, điện tử và các sản phẩm thuộc danh mục công nghệ số trọng điểm.
Đáng chú ý, Nghị định dành dung lượng đáng kể cho lĩnh vực bán dẫn, cho phép triển khai toàn bộ chuỗi hoạt động từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử chip bán dẫn đến sản xuất thiết bị, máy móc phục vụ trực tiếp cho ngành công nghiệp này.
Bên cạnh đó, khu công nghệ số tập trung còn thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, ươm tạo công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số, xúc tiến thương mại và đầu tư trong lĩnh vực công nghệ số.
Có diện tích tối thiểu từ 5 ha trở lên
Nghị định cũng quy định rõ các tiêu chí về quy mô diện tích và nhân lực nhằm bảo đảm tính tập trung và hiệu quả của mô hình.
Theo đó, khu công nghệ số tập trung phải có diện tích tối thiểu từ 5 ha trở lên; riêng khu chỉ tập trung vào sản xuất phần mềm, sản phẩm nội dung số và cung cấp dịch vụ công nghệ số có thể áp dụng mức tối thiểu 1 ha.
Về nhân lực, khu công nghệ số tập trung phải có ít nhất 2.000 lao động công nghiệp công nghệ số, trong đó nhân lực công nghệ số chiếm tối thiểu 60% tổng số lao động; đối với mô hình chuyên về phần mềm và dịch vụ công nghệ số, yêu cầu tối thiểu là 1.000 nhân lực.
Về tổ chức không gian, khu công nghệ số tập trung phải được quy hoạch thành hai nhóm phân khu chức năng chính. Nhóm thứ nhất là các phân khu trực tiếp thực hiện hoạt động công nghiệp công nghệ số, bao gồm sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu – phát triển, tư vấn, đào tạo và vườn ươm công nghệ số. Nhóm thứ hai là các phân khu cung cấp dịch vụ hỗ trợ, như dịch vụ dân sinh, lưu trú, tài chính – ngân hàng hoặc các dịch vụ thiết yếu khác. Tổng diện tích đất dành cho nhóm phân khu công nghiệp công nghệ số phải chiếm tối thiểu 50% diện tích toàn khu, đồng thời bảo đảm các chỉ tiêu về mật độ xây dựng, tỷ lệ cây xanh, giao thông và hạ tầng kỹ thuật theo quy định.
Phải nằm trong các quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Để được thành lập, khu công nghệ số tập trung phải đáp ứng đồng bộ nhiều điều kiện, trong đó nổi bật là yêu cầu phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước về phát triển công nghiệp công nghệ số; phù hợp với các chiến lược, chương trình, kế hoạch quốc gia về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế số.
Bên cạnh đó, khu công nghệ số tập trung phải nằm trong các quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, quy hoạch vùng (nếu có), quy hoạch tỉnh và quy hoạch sử dụng đất. Trường hợp chưa phù hợp, địa phương phải hoàn tất thủ tục điều chỉnh, bổ sung quy hoạch trước khi triển khai thành lập khu.
Nghị định cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và các giá trị lịch sử, văn hóa, di sản. Đồng thời, việc thành lập khu công nghệ số tập trung phải có phương án cụ thể, phù hợp với chức năng, mục tiêu hoạt động của từng khu.
Về chính sách ưu đãi, khu công nghệ số tập trung được hưởng các ưu đãi theo quy định của Luật Công nghiệp công nghệ số và pháp luật có liên quan.
Cụ thể, nhân lực công nghệ số chất lượng cao làm việc trong khu được áp dụng các chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, trong đó có miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
Trong khi đó, các dự án đầu tư xây dựng trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm dữ liệu; dự án bán dẫn; dự án sản xuất sản phẩm công nghệ số chiến lược hoặc công nghệ cao được khuyến khích phát triển được áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt theo pháp luật về đầu tư.
Ngoài ra, doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong khu công nghệ số tập trung còn được hỗ trợ chi phí tra cứu, đăng ký, duy trì và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các tài sản trí tuệ phát sinh từ hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh trong khu.
Đối với doanh nghiệp chế xuất trong khu công nghệ số tập trung, Nghị định quy định cụ thể về điều kiện hạ tầng, kiểm tra, giám sát hải quan và cơ chế áp dụng các chính sách dành cho khu phi thuế quan theo pháp luật hiện hành.
Nghị định số 354/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026, được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý quan trọng để hình thành và phát triển các khu công nghệ số tập trung quy mô lớn, hiện đại, qua đó thúc đẩy công nghiệp công nghệ số, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.