Từ mùa Thu Độc lập đến khát vọng Việt Nam thịnh vượng
81 năm sau mùa Thu lịch sử 1945, khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam được tiếp nối bằng mục tiêu xây dựng một đất nước giàu mạnh, thịnh vượng. Hai mốc 2030 và 2045 đang đưa mục tiêu ấy từ tầm nhìn dài hạn trở thành những yêu cầu phát triển cụ thể của hiện tại.
Khát vọng nối dài
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ dấu mốc lịch sử ấy, dân tộc Việt Nam giành lại quyền tự quyết, quyền lựa chọn con đường phát triển và làm chủ vận mệnh của mình.
81 năm qua, đất nước đã đi qua chiến tranh, thống nhất, Đổi mới và hội nhập. Mỗi giai đoạn đặt ra những nhiệm vụ khác nhau, nhưng xuyên suốt vẫn là mục tiêu giữ vững độc lập, xây dựng đất nước và nâng cao đời sống nhân dân.
Trong diễn văn tại Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh tối 28/8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt chặng đường phát triển của đất nước trong sự tiếp nối của các thời kỳ lịch sử. Sau kỷ nguyên độc lập, kỷ nguyên thống nhất và kỷ nguyên đổi mới, Đại hội XIV của Đảng đánh dấu đất nước bước vào "kỷ nguyên phát triển mới", hướng tới xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh và thịnh vượng.
Thông điệp đó cũng cho thấy nội hàm của khát vọng dân tộc đang được mở rộng. Độc lập là thành quả lịch sử và là nền tảng để Việt Nam phát triển bằng chính năng lực, ý chí và lựa chọn của mình. Trong điều kiện mới, giữ vững độc lập, tự chủ gắn ngày càng chặt với sức mạnh kinh tế, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực, năng lực của doanh nghiệp và khả năng thích ứng trước những biến động từ bên ngoài.
Từ độc lập đến năng lực phát triển
Sau 40 năm Đổi mới, vị thế của Việt Nam đã thay đổi sâu sắc. Trong diễn văn kỷ niệm Quốc khánh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có tất cả các nước thành viên Liên Hợp Quốc; có khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 45 đối tác; là thành viên của 70 tổ chức quốc tế quan trọng và tham gia 17 hiệp định thương mại tự do. Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng, có quy mô thương mại lớn và là mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Những thành quả đó tạo nền tảng cho chặng đường mới, nhưng cũng đặt ra một yêu cầu khác về chất lượng phát triển. Khi những lợi thế về chi phí lao động, tài nguyên hay mở rộng đầu tư theo chiều rộng dần thu hẹp, tăng trưởng phải dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Tự chủ trong một nền kinh tế có độ mở lớn không có nghĩa là khép kín. Điều quan trọng là năng lực hội nhập mà không bị lệ thuộc, thu hút nguồn lực bên ngoài nhưng đồng thời củng cố sức mạnh bên trong; tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng phải nâng dần phần giá trị do người Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam tạo ra.
Ở đó, khu vực doanh nghiệp có vai trò đặc biệt. Chính doanh nghiệp là nơi công nghệ được đưa vào sản xuất, nguồn nhân lực được chuyển hóa thành năng suất, sáng tạo trở thành sản phẩm và năng lực quốc gia được thể hiện bằng sức cạnh tranh trên thị trường. Một nền kinh tế mạnh khó có thể được xây dựng trên một khu vực doanh nghiệp yếu.
Vì vậy, tăng trưởng nhanh phải đi cùng chất lượng tăng trưởng. Một nền kinh tế đủ sức chống chịu, hệ thống pháp luật ổn định, môi trường kinh doanh minh bạch, hạ tầng đồng bộ, nguồn nhân lực chất lượng cao cùng một cộng đồng doanh nghiệp có khả năng đổi mới và vươn ra thị trường quốc tế sẽ là những yếu tố quyết định khả năng hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Việt Nam.
2045 không còn xa
Trong diễn văn kỷ niệm Quốc khánh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm một lần nữa nhấn mạnh hai mốc phát triển: Đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, phồn vinh và hạnh phúc.

Từ năm 2026 đến năm 2045 chỉ còn 19 năm.
Đó là một khoảng thời gian không dài đối với một mục tiêu có quy mô như vậy. Những quyết định về thể chế, hạ tầng, khoa học công nghệ, giáo dục, nguồn nhân lực và phát triển doanh nghiệp trong những năm tới sẽ trực tiếp tạo nên diện mạo Việt Nam khi đất nước kỷ niệm 100 năm thành lập nước.
Bởi vậy, 2045 không chỉ là một mốc thời gian để hướng tới. Đây là mục tiêu đòi hỏi những thay đổi phải bắt đầu ngay trong hiện tại, từ chất lượng thể chế, năng suất của nền kinh tế đến khả năng hình thành những doanh nghiệp Việt Nam đủ lớn, đủ mạnh và đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Đích đến cũng không thể chỉ được đo bằng quy mô GDP hay thứ hạng của nền kinh tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh quan điểm đặt "nhân dân là chủ thể, là trung tâm", lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.
Thịnh vượng vì thế phải hiện diện trong đời sống: Thu nhập tốt hơn, việc làm bền vững hơn, giáo dục và y tế có chất lượng cao hơn, môi trường sống tốt hơn và cơ hội phát triển rộng mở hơn. Sức mạnh của một quốc gia, sau cùng, phải được chuyển hóa thành chất lượng sống và cơ hội phát triển của người dân.
Giữa mùa Thu năm 1945 và mùa Thu năm 2026 là hành trình 81 năm với những đổi thay lớn lao. Năm 1945, khát vọng lớn nhất là giành lại độc lập và quyền tự quyết. Hôm nay, khát vọng ấy được tiếp nối bằng mục tiêu xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc và có đủ năng lực làm chủ tương lai.
Mốc 2045 vì thế không nằm ở một tương lai xa. Những nền móng của Việt Nam năm 2045 đang được đặt xuống từ chính những quyết định, công việc và nỗ lực của hôm nay.
Từ khát vọng độc lập đến khát vọng thịnh vượng, sợi dây xuyên suốt 81 năm vẫn là ý chí tự quyết, tự cường và khát vọng làm cho đất nước ngày một mạnh hơn, để cuộc sống của người dân ngày một tốt hơn.